TỘI TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

luбє­t duy hЖ°ng

Tình trạng trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động đang ngày càng gia tăng dẫn đến nguy cơ đổ vỡ quỹ bảo hiểm, gây thiệt hại nghiêm trọng cho quỹ BHXH và xâm phạm quyền lợi chính đáng người lao động….

Tình trạng trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động đang ngày càng gia tăng dẫn đến nguy cơ đổ vỡ quỹ bảo hiểm, gây thiệt hại nghiêm trọng cho quỹ BHXH và xâm phạm quyền lợi chính đáng người lao động. Để ngăn chặn hiệu quả hiện tượng tiêu cực này, Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung tội danh mới – Tội trốn đóng bảo hiểm cho xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Vậy, tội phạm này được quy định như thế nào? Sau đây, Luật Duy Hưng xin gửi đến bạn đọc quy định và cấu thành tội phạm tội này. 

Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động được quy định tại Điều 216 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) như sau:

1. Người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng năm đến 03 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

c) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người;

d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên;

c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.

TỘI TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

CẤU THÀNH TỘI PHẠM

Khách thể của tội phạm:

Tội phạm này xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý trong lĩnh vực bảo hiểm.

Đối tượng tác động của tội phạm này là các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Khách thể của tội phạm ở đây có thể bị xâm hại làm thâm hụt các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Mặt khách quan của tội phạm:

1. Hành vi:

Thể hiện bằng hành vi “không đóng” hoặc “đóng không đầy đủ” theo quy định bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động bằng thủ đoạn gian dối hoặc các thủ đoạn khác.

– Hành vi không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho đủ số người lao động là hành vi của người sử dụng lao động tuy tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không phải cho toàn bộ người lao động và do vậy không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho một bộ phận người lao động gây thiệt hại cho quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cũng như cho quyền lợi của những người lao động này

– Hành vi không đóng đủ mức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động là hành vi cố ý không đóng đủ mức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (đóng thấp hơn mức thực tế phải đóng) bằng thủ đoạn gian dối khác nhau. Ví dụ, người sử dụng lao động “quên” điều chỉnh để đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo mức tiền lương, tiền công mới được tăng mà vẫn đóng theo mức cũ hoặc tìm cách đóng chậm hơn quy định.

Tội phạm này hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện hành vi trốn hoặc đóng không đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

2. Hậu quả:

Hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này tuy nhiên điều luật cũng đã quy định về mức độ hậu quả thiệt hại cụ thể. Về số tiền trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng trở lên, số người: trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người trở lên.

3. Các dấu hiệu khác:

Những hành vi nếu trên chỉ cấu thành tội phạm này nếu người phạm tội có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà có sự gian dối, có thủ đoạn để không đóng hoặc đóng không đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên.

Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội phạm này thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi gian dối trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm có thể xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của người lao động, thấy trước được hậu quả của hành vi gian dối trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm nhưng vẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Mục đích của người phạm tội là thu lợi bất chính vơi động cơ tội phạm này là vụ lợi.

Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể tội phạm là cá nhân có năng lực TNHS và đủ tuổi theo quy định tại điều 12 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) (từ đủ 16 tuổi trở lên theo khoản 1 Điều này). Ngoài ra, chủ thể của tội phạm này chỉ là người sử dụng lao động hoặc pháp nhân thương mại có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

HÌNH PHẠT CỦA TỘI PHẠM

Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 03 tháng đến 01 năm và có thể bị phạt mức hình phạt cao nhất là 07 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Pháp nhân thương mại phạm tội có thể bị xử phạt cao nhất lên đến 3.000.000.000 đồng.

———————————————————————

Trên đây là một số nội dung cơ bản về “Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động”. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây

Quý khách cần tìm hiểu thêm các vấn đề có liên quan đến dịch vụ Luật sư chuyên Hình sự đề nghị tham khảo Tại đây. Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các cách thức sau để được tư vấn trực tiếp.

VPGD Hà Nội: Số 55 – Lô C1, phố Nguyễn Công Thái, KĐT Đại Kim – Định Công, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Chi nhánh tại Hà Nam: Số 288, đường Ngô Quyền, phường Duy Hải, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Hotline (zalo) tư vấn miễn phí: 0964653879 – 0929228082   –      Email: luatduyhung@gmail.com 

Fanpage: https://www.facebook.com/luatduyhung/ 

Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879