HOÃN THI HÀNH ÁN KHI NÀO

luбє­t duy hЖ°ng

Bài viết phân tích các trường hợp được hoãn thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014) và văn bản hướng dẫn, nêu rõ điều kiện, thủ tục hoãn thi hành án. Hoãn thi hành án là quyền lợi hợp pháp cho người phải thi hành án và cũng nêu ví dụ thực tiễn về những rủi ro khi người phải thi hành án không được tư vấn kịp thời về quyền này.

“Hoãn thi hành án” (HTHA)là biện pháp tạm thời ngưng thực hiện việc thi hành án do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trong những trường hợp có căn cứ pháp luật như người phải thi hành án bị ốm nặng, không có tài sản… theo quy định tại Điều 48 Luật Thi hành án dân sự.

Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014) quy định rất rõ các trường hợp phải HTHA. Cụ thể, Điều 48 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014 liệt kê những căn cứ HTHA dân sự như sau:

Hoãn thi hành án khi nào?

“1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp sau đây:

a) Người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;

b) Chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định;

c) Đương sự đồng ý hoãn thi hành án; việc đồng ý hoãn thi hành án phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác;

d) Tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này; tài sản được kê biên theo Điều 90 của Luật này nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm;

đ) Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 170 và khoản 2 Điều 179 của Luật này;

e) Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận;

g) Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 54 của Luật này chưa thực hiện được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;

h) Tài sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 104 của Luật này.”

2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết.

Trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án.

Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được. 

Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.

3. Thời hạn ra quyết định hoãn thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì phải ra ngay quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này không còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khi nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án.”

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì người phải thi hành án chỉ được hoãn khi thỏa mãn một trong các điều kiện nêu trên. Ví dụ, nếu người phải thi hành án đang bệnh trọng (được xác nhận bởi cơ sở y tế) mà cuộc sống khó khăn, có thể đề nghị hoãn thi hành án để lo chữa bệnh.

Ngược lại, nếu người phải thi hành án có khả năng tự thực hiện nhưng cố tình trì hoãn, cơ quan thi hành án sẽ không chấp nhận đề nghị HTHA. Cần lưu ý thêm rằng Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự cũng quy định rõ: chỉ được HTHA theo quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 48 khi người phải thi hành án phải tự mình thực hiện nghĩa vụ.

Ví dụ, nếu nghĩa vụ thi hành án là nộp tiền nhưng người phải thi hành án có tài sản có thể bán để nộp thay, cơ quan thi hành án sẽ xử lý tài sản đó chứ không HTHA.

Ví dụ: Chị L bị Tòa án buộc phải nộp một khoản tiền do tranh chấp kinh doanh. Tuy nhiên, lúc ấy chị đang dưỡng thai và mới sinh con, sức khỏe yếu. Do không được tư vấn, chị Lan không làm hồ sơ đề nghị HTHA. Khi Cơ quan thi hành án đến cưỡng chế, chị Lan đang ốm nặng phải nhập viện. Nếu được biết quyền HTHA, chị L có thể xin HTHA để điều trị, nhưng vì không hiểu luật nên chị bị cưỡng chế bán tài sản khiến đời sống khó khăn.

Hoãn Thi Hành Án khi nào

Thủ tục đề nghị hoãn thi hành án thế nào?

Người phải thi hành án (hoặc người có thẩm quyền kháng nghị) cần làm đơn đề nghị HTHA gửi đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Hiện pháp luật không quy định mẫu riêng cho đơn xin HTHA, nhưng người làm đơn cần nêu rõ căn cứ (theo quy định tại Điều 48 LTHADS), lý do hoãn, kèm theo tài liệu chứng minh như giấy xác nhận bệnh viện, Quyết định đang xem xét giám đốc thẩm, tái thẩm …vv.

Đối với trường hợp ốm nặng hoặc không xác định được địa chỉ, đơn phải đính kèm giấy tờ y tế hoặc chứng cứ cho lý do chính đáng khiến người phải thi hành án không thể thi hành đúng hạn. Nếu hoãn xuất phát từ thỏa thuận với người được thi hành án thì cần có văn bản ghi rõ sự đồng ý của người được thi hành án và thời hạn HTHA.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 14 Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn luật thi hành án dân sự năm 2008 thì trong trường hợp HTHA vì điểm a hoặc b (bệnh nặng, lý do chính đáng), chỉ khi nào người phải thi hành án phải tự mình thực hiện nghĩa vụ thì mới được chấp nhận HTHA. Chấp hành viên có trách nhiệm xác minh thông tin trong đơn, nếu đủ điều kiện mới ra quyết định HTHA.

Luật Thi hành án dân sự cũng quy định rõ thời hạn ra quyết định HTHA là 05 ngày làm việc kể từ khi có căn cứ. Trong thời gian hoãn, việc thi hành án tạm ngưng; trường hợp hoãn do thỏa thuận, người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo thỏa thuận.

Ý nghĩa và lợi ích của HTHA.

HTHA được xem là biện pháp bảo đảm cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Đối với người phải thi hành án, đây là cơ hội để vượt qua khó khăn khách quan (bệnh tật, đang dưỡng thai, chăm sóc người thân…) mà không bị cưỡng chế đột ngột. Mặt khác, người có quyền lợi (người được thi hành án) cũng được bảo vệ vì việc HTHA là có thời hạn và được giám sát chặt chẽ.

Luật Thi hành án dân sự quy định rõ: thời gian HTHA không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, nghĩa là dù HTHA bao lâu, người được thi hành án vẫn được kéo dài thời hạn 5 năm nộp đơn yêu cầu thi hành án mà không bị mất quyền.

Ngoài ra, theo điểm b khoản 1 Điều 48 Luật thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2017, nếu HTHA do thỏa thuận thì người phải thi hành án còn được miễn lãi suất chậm thi hành án trong thời gian hoãn – đây là ưu đãi thiết thực cho người thi hành án khi cùng thống nhất không giải quyết ngay.

Việc hoãn thi hành án còn giúp bảo đảm thi hành án được toàn vẹn và đúng mục đích: ví dụ đối với tài sản đang tranh chấp, HTHA tạo điều kiện để Tòa án giải quyết xong tranh chấp, tránh việc giao tài sản về tay người yêu cầu khi có tranh chấp tồn tại. Nhờ đó, thi hành án được thực hiện công bằng hơn, tránh xảy ra tình trạng hậu quả không khắc phục được. Tuy nhiên, để tận dụng được quyền lợi này, người phải thi hành án cần chủ động nắm bắt thông tin và làm đơn xin HTHA ngay khi phát sinh căn cứ hợp pháp.

Hậu quả khi không hiểu quyền HTHA.

Nếu người phải thi hành án không biết quyền được HTHA, họ dễ đối mặt với hậu quả bất lợi. Điển hình là trường hợp không làm đơn xin HTHA kịp thời khi có căn cứ hợp pháp, dẫn đến việc thi hành án diễn ra sớm, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản. Không những vậy, nếu không biết được quyền HTHA  còn khiến người phải thi hành án phải chịu thêm lãi suất chậm thi hành án, không lợi dụng được thời gian giãn HTHA kéo dài thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Ví dụ, khi không biết rằng chỉ cần sự đồng ý của người được thi hành án là có thể HTHA và miễn lãi suất, nhiều người phải thi hành án đã chịu mức lãi suất cao vì hối thúc nộp tiền ngay trong lúc đang ốm đau, vừa lo cơm áo gạo tiền.

Một hệ quả khác là tình trạng hiểu nhầm “đồng ý hoãn” với “tạm đình chỉ” (hoặc chính vì nhầm lẫn giữa kháng cáo và kháng nghị). Nhiều người  không phân biệt rõ giữa các chế độ pháp lý này. Việc không xin HTHA trong trường hợp đang chờ giám đốc thẩm – tái thẩm có thể gặp bất lợi sau này. Nhiều trường hợp, người phải thi hành án chỉ biết được quyền của mình khi đã bị cưỡng chế xong xuôi, khiến việc khắc phục gần như không thể.

Ví dụ: Bà Nguyễn Thị C thua kiện trong một vụ án đòi nợ dân sự. Luật sư của bà đã gửi đơn kháng nghị yêu cầu giám đốc thẩm, nhưng bà không hề nghĩ rằng mình có quyền đề nghị HTHA khi vụ việc đang được xem xét. Cơ quan thi hành án vẫn đến kê biên tài sản của bà, và chỉ khi biết tin, bà mới tức tốc làm đơn yêu cầu hoãn, nhưng lúc này việc cưỡng chế đã hoàn tất. Nếu được tư vấn đầy đủ, bà C có thể yêu cầu HTHA ngay khi kháng nghị được chấp nhận, tránh bị thiệt hại lớn.


Trên đây là một số vấn đề liên quan đến việc hoãn thi hành theo quy định của pháp luật thi hành án năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014. Để tìm hiểu thêm các nội dugn có liên quan đến pháp luật thi hành án đề nghị Quý khách hàng tham khảo các bài viết khác Tại đây.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.

  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879