THỜI HIỆU YÊU CẦU THI HÀNH ÁN

luбє­t duy hЖ°ng

Bài viết này phân tích toàn diện vấn đề thời hiệu yêu cầu thi hành án từ góc nhìn của một công ty luật có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Chúng tôi không chỉ làm rõ thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định pháp luật hiện hành mà còn cảnh báo những hậu quả nghiêm trọng nếu người được thi hành án chậm trễ. Thông qua các nghiên cứu điển hình từ thực tiễn, bài viết nhấn mạnh vai trò thiết yếu củả việc tư vấn luật trong quá trình thi hành án.

“Yêu cầu thi hành án” (YCTHA) là thủ tục pháp lý cho phép người được THA theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật gửi cơ quan thi hành án dân sự để đề nghị tổ chức thi hành án. Nói cách khác, người được thi hành án sẽ soạn Đơn yêu cầu thi hành án – một văn bản chính thức trình bày mong muốn cơ quan thi hành án tiến hành cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của Tòa.

Chỉ khi có YCTHA hợp pháp thì cơ quan thi hành án mới vào cuộc tổ chức các biện pháp cưỡng chế như: kê biên tài sản, thu giữ tài khoản, cưỡng chế cưỡng chế… để thực thi phán quyết. Trường hợp người được THA đã thắng kiện nhưng không nộp YCTHA, vụ án sẽ “dừng lại” trên giấy, nghĩa vụ của bên thua kiện không bị cưỡng chế thực hiện.

Đơn yêu cầu thi hành án.

Theo quy định tại Điều 31 Luật thi hành án năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì đơn YCTHA được quy  định như sau:

a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có;

e) Ngày, tháng, năm làm đơn;

g) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm đơn; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân, nếu có.

Về nộp đơn YCTHA: Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014) quy định người được thi hành án có thể tự mình hoặc ủy quyền cho người khác (ví dụ luật sư) nộp đơn YCTHA. Và hình thức nộp đơn YCTHA có thể nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.

Thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Luật Thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi sung năm 2014 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 5 năm. Cụ thể, theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi 2014) quy định, trong vòng 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực, người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án.

Với những bản án yêu cầu thực hiện nghĩa vụ định kỳ, thời hiệu 5 năm được áp dụng cho từng kỳ thanh toán, tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Trong trường hợp xuất hiện sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, người được thi hành án có quyền đề nghị cơ quan thi hành án xem xét cho phép YCTHA quá thời hiệu.

Quy định về thời hiệu có ý nghĩa then chốt: chỉ trong thời hạn 5 năm kể từ khi có hiệu lực, bên thắng kiện mới giữ được quyền YCTHA. Hết 5 năm, dù bản án vẫn còn hiệu lực pháp luật, người được thi hành án mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án. Nói cách khác, công cụ pháp lý khả dụng (đơn yêu cầu) sẽ không còn hiệu lực.

Quyền YCTHA là “Biện pháp pháp lý” khâu cuối cùng để đưa bản án vào thực tiễn. Nếu vượt qua mốc thời gian cho phép, người thắng kiện không thể yêu cầu cơ quan THA cưỡng chế buộc bên thua kiện thực thi nghĩa vụ đã thua. Điều này đặt áp lực rất lớn đối với người được THA: họ phải biết bản án đã có hiệu lực và nhanh chóng nộp đơn YCTHA trước khi quá muộn.

Sự kiện bất khả kháng – trở ngại khách quan.

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 62/2015 nghị định hướng dẫn thi hành luật thi hành án dân sự năm 2008, nếu người được thi hành án gặp sự kiện bất khả kháng – trở ngại khách quan mà không thể YCTHA trong thời hạn 5 năm theo quy định thì có quyền làm đơn YCTHA đề nghị cơ quan/ người có thẩm quyền xem xét. Cụ thể, điều luật quy định như sau:

“2. Trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc không thể yêu cầu thi hành án trong thời hiệu theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự thì đương sự có quyền đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xem xét, quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu thi hành án quá hạn.

3. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sự kiện bất khả kháng là trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa;

b) Trở ngại khách quan là trường hợp đương sự không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn; tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức hoặc đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế; tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, chuyển đổi hình thức, chuyển giao bắt buộc, chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp mà chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật hoặc do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan, cá nhân khác dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn.

4. Việc YCTHA quá hạn được thực hiện theo quy định tại Khoản 1, 2 và 3 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự, nêu rõ lý do, kèm theo tài liệu chứng minh lý do không thể YCTHA đúng hạn. Tài liệu chứng minh gồm:

a) Đối với trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc do đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế hoặc do trở ngại khách quan xảy ra tại địa phương nên không thể YCTHA đúng hạn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú cuối cùng hoặc nơi cư trú khi xảy ra sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp quy định tại các Điểm b, c, d, đ và e Khoản này;

b) Đối với trường hợp tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức nên không thể YCTHA đúng hạn thì phải có tóm tắt hồ sơ bệnh án được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp huyện trở lên xác nhận và tài liệu kèm theo, nếu có;

c) Đối với trường hợp do yêu cầu công tác nên không thể YCTHA đúng hạn thì phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc giấy cử đi công tác của cơ quan, đơn vị đó;

d) Đối với trường hợp do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án nên không thể YCTHA đúng hạn thì phải có xác nhận của cơ quan đã ra bản án, quyết định, cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

đ) Đối với trường hợp hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, chuyển đổi hình thức, chuyển giao bắt buộc, chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp thì phải có văn bản hợp pháp chứng minh thời gian chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới có quyền YCTHA.

e) Đối với các trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan khác nên không thể YCTHA đúng hạn thì phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc tài liệu hợp pháp khác để chứng minh.

Xác nhận của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thể hiện rõ địa điểm, nội dung và thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc đương sự không thể YCTHA đúng hạn.

5. Đối với trường hợp đã trả đơn YCTHA trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 mà đương sự YCTHA trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định trả đơn phải ra quyết định thi hành án và tổ chức việc thi hành án. YCTHA thực hiện theo quy định tạiĐiều 31 Luật Thi hành án dân sựvà phải kèm theo tài liệu liên quan, quyết định trả đơn YCTHA, nếu có.

Trường hợp không còn quyết định trả lại đơn YCTHA, người được thi hành án có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định trả lại đơn YCTHA xác nhận về việc đã trả đơn và thụ lý giải quyết việc thi hành án.

6. Trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền YCTHA tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khi đã hết thời hiệu YCTHA thì cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định khôi phục thời hiệu YCTHA. Trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp, đồng thời lập biên bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do phạm nhân là người phải thi hành án, người được ủy quyền hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thi hành án đến nhận.

Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà người được thi hành án không đến nhận tiền, tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước, sau khi khấu trừ tiền, tài sản mà họ phải thi hành theo quyết định thi hành án khác, nếu có.”

Ý nghĩa của yêu cầu thi hành án.

Trong các vụ tranh chấp kinh doanh thương mại, giá trị hợp đồng, khoản nợ hay khoản phạt thường rất lớn. Việc thi hành án dân sự giúp đảm bảo quyền lợi cho bên thắng kiện, thu hồi tài sản hoặc khoản tiền theo bản án. Yêu cầu thi hành án là cầu nối duy nhất giữa phán quyết Tòa án và khả năng thu hồi tài sản thực tế. Với doanh nghiệp, khả năng kinh doanh, dòng tiền và uy tín đều phụ thuộc vào hiệu quả thi hành án khi thắng kiện. Nếu không khẩn trương gửi YCTHA, doanh nghiệp sẽ không được đảm bảo quyền lợi, lợi ích từ bản án.

Ví dụ, trong một vụ tranh chấp giữa Công ty TC và ông Đặng Văn Q (Hà Nội), sau khi Tòa án phúc thẩm buộc Công ty TC phải trả lại 1,365 tỷ đồng cho ông Q, phía bị đơn đã cố tình trốn tránh trách nhiệm thi hành án. Cụ thể, Công ty TC thay đổi tên và người đại diện pháp luật cố tình che dấu thông tin với mục đích trốn tránh nghia vụ thi hành án với ông Q.

May mắn thay, nhờ có sự hỗ trợ pháp lý từ luật sư, ông Q đã thu thập các tài liệu, chứng cứ có liên quan và có đơn YCTHA trong thời hạn luật định quyết định nên cơ quan thi hành án đã buộc Công ty TCL (trước đây là công ty TC) thực hiện nghĩa vụ THA. Trường hợp ông Q không nhờ luật sư hỗ trợ, có thể ông đã gặp nhiều vướng mắc trong khâu thu thập tài liệu để chứng minh công ty TC trước đây là công ty TCL hiện nay, cũng như quá trình kê biên, cưỡng chế tài sản đòi nợ, nhất là khi đối tượng cố tình thay đổi giấy tờ để trốn tránh.

Trong bối cảnh hoạt động thương mại phức tạp như hiện nay (liên quan ngân hàng, tài sản thế chấp, tài khoản nước ngoài…), việc thu thập thông tin và xử lý tài sản bên thua kiện đã là thách thức. Nếu doanh nghiệp thắng kiện không kịp thời nộp YCTHA, mọi quyền lợi dù đã có bản án bảo vệ sẽ không phát huy được. Đặc biệt, các công ty nhỏ chưa có kinh nghiệm thường ỷ lại vào ghi nhận phán quyết mà chậm nộp đơn thi hành án. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp bị động đến mức gần hết thời hiệu mới vội vã “rục rịch”, dẫn đến mất quyền YCTHA, phải tự thân chịu thiệt.

Thời hiệu yêu cầu thi hành án

Vai trò của Luật sư trong quá trình thi hành án

Luật sư chính là người trợ giúp đắc lực để người được thi hành án/ người được thi hành án tránh những rủi ro không đáng có trong quá trình THA. Theo quy định, Luật sư có quyền hướng dẫn và đại diện cho người được thi hành án trong suốt giai đoạn thi hành án dân sự. Cụ thể, luật sư có quyền tư vấn pháp luật cho khách hàng về quyền và trách nhiệm, hướng dẫn soạn thảo Đơn yêu cầu thi hành án, thu thập các chứng cứ, hồ sơ liên quan (bản án, hợp đồng, phiếu thu…). Luật sư cũng hỗ trợ trong quá trình tiến hành thủ tục kê biên, xác minh điều kiện thi hành án, đề xuất các biện pháp bảo đảm như phong tỏa tài khoản ngân hàng, định giá và rao bán tài sản thế chấp.

Trong quá trình thi hành, nếu có phát sinh khiếu nại, tố cáo về thi hành án, luật sư sẽ giúp doanh nghiệp soạn thảo đơn khởi kiện lại hoặc phản hồi yêu cầu, bảo vệ quyền lợi tối đa cho khách hàng. Thực tế cho thấy, nhiều đương sự không nắm vững quy định về thi hành án nên đã bỏ lỡ các thủ tục quan trọng; sự tham gia của luật sư giúp khắc phục “điểm mù” này. Đặc biệt, khi bên phải thi hành án cố tình gây khó khăn (chuyển quyền sở hữu, thay đổi đăng ký kinh doanh như vụ Công ty TC ở trên), luật sư sẽ nhanh chóng đề xuất biện pháp cưỡng chế phù hợp, tránh thất thoát tài sản. Bên cạnh đó, luật sư am hiểu pháp luật hành chính sẽ theo dõi tiến độ tại cơ quan thi hành án, thúc đẩy xử lý nhanh chóng thay vì để trì trệ kéo dài.

Nếu người được thi hành án tự làm thủ tục thi hành án mà không có tư vấn chuyên nghiệp, họ rất dễ nhầm lẫn về quy định thời hạn hoặc thiếu sót trong đơn yêu cầu. Ví dụ, nhiều người được THA chỉ biết lúc có phán quyết là gửi đơn, nhưng lại không thực hiện đúng theo mẫu hoặc thiếu các giấy tờ cần thiết theo quy định. Hệ quả là đơn yêu cầu bị trả lại để sửa, gián đoạn quá trình thi hành.

Ngược lại, khi có luật sư gắn bó ngay từ khâu đầu, các giấy tờ thường được hoàn chỉnh và nộp đúng hạn, giảm thiểu rủi ro hành chính. Nhìn chung, luật sư giữ vai trò “đầu tầu” để doanh nghiệp tuân thủ thời hạn YCTHA, đồng thời thực hiện tốt các bước thi hành án, gia tăng khả năng thu hồi nợ.


Trên đây là một số quy định của pháp luật về “Thời hiệu yêu cầu thi hành án” theo quy định của luật thi hành án năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014, để biết thêm các thông tin khác có liên quan đến thi hành án dân sự đề nghị Quý khách vui lòng tham khảo Tại đây.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.

  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879