LY HÔN VỚI MỘT BÊN BỊ BỆNH ĐỘNG KINH

luбє­t duy hЖ°ng

Hiện nay, tình trạng ly hôn ngày càng gia tăng, theo đó vấn đề đặt ra ly hôn trong một số trường hợp đặc biệt như: ly hôn với một bên bị bệnh tâm thần, bị bệnh động kinh dẫn đến mất năng lực hành vi dân sự, hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì pháp luật hôn nhân và gia đình quy định như thế nào? Mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây.

Theo quy định tại Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải thích từ ngữ ly hôn : “ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án”. So với quy định trước đây tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 theo quy định mới bỏ cụm từ “theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”. Việc giải thích từ “ly hôn” như hiện nay thể hiện: Ngoài vợ, chồng có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn thì còn có chủ thể khác không phải là vợ, chồng nhưng cũng có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn trong một số trường hợp đặc biệt.

Theo đó, ly hôn với một bên bị bệnh động kinh ai được yêu cầu giải quyết ly hôn? Và yêu cầu ly hôn trong trường hợp bên còn lại bị bệnh động kinh có bị cấm hoặc hạn chế không?

1. Người bị bệnh động kinh có được ly hôn không

Điều 51 Luật HNGĐ quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

– Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

– Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Theo quy định này, người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn là vợ hoặc chồng hoặc cả hai. Trường hợp vợ chồng mất năng lực hành vi dân sự ngoài chủ thể là cha, mẹ, người thân thích, khoản 1, 5 Điều 187 BLTTDS còn có qui định: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn chỉ bị hạn chế đối với người chồng trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được qui định tại khoản 3 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014. Điều luật qui định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn không cấm hay hạn chế trường hợp vợ (chồng) yêu cầu ly hôn với người còn lại bị bệnh động kinh.

2. Ai có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn trong trường hợp một bên còn lại bị bệnh động kinh

a/ Bệnh động kinh là gì? Năng lực hành vi dân sự, tham gia tố tụng dân sự người bị bệnh động kinh như thế nào?

Bệnh động kinh là một rối loạn từ các tín hiệu điện trong não, gây co giật tái diễn. Một số người bị động kinh chỉ đơn giản là nhìn ngây người trong vài giây trong quá trình lên cơn, trong khi những người khác nặng hơn thì chính thức co giật. Người bị động kinh trong khi lên cơn sẽ mất khả năng nhận thức, không thể kiểm soát hoặc điều chỉnh được hành vi của mình.

Theo khái niệm này, người bị bệnh động kinh không phải lúc nào cũng mất khả năng nhận thức, không kiểm soát, điều chỉnh được hành vi của mình. Do đó, năng lực hành vi dân sự, tố tụng dân sự của người bị bệnh động kinh cũng khác nhau tuỳ theo giai đoạn lên cơn, mức độ nặng nhẹ của một số triệu chứng làm ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, kiểm soát, điều chỉnh hành vi của mình.

Theo Quyết định 4293/QĐ_BYT ngày 19/9/2019 của Bộ Y tế hướng dẫn chuẩn đoán, kết luận giám định pháp y tâm thần đối với 70 bệnh/rối loạn tâm thần và hành vi thường gặp. Theo đó, đối với bệnh động kinh (G40) được hướng dẫn:

“…..

Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

a) Mất khả năng nhận thức và/ hoặc khả năng điều khiển hành vi:

– Giai đoạn trong cơn động kinh;

– Cơn xung động động kinh;

– Cơn rối loạn ý thức kiểu hoàng hôn (thường xảy ra sau cơn động kinh toàn thể cơn lớn);

– Sa sút trí tuệ;

– Biến đổi nhân cách mức độ nặng.

b) Hạn chế khả năng nhận thức và/ hoặc khả năng điều khiển hành vi (có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi ở các vụ việc dân sự): giai đoạn ngoài cơn động kinh, bệnh nhân đã có biến đổi nhân cách mức độ vừa, nhẹ và/ hoặc có một số biểu hiện rối loạn tâm thần.

c) Đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: giai đoạn ngoài cơn động kinh, bệnh nhân chưa có biến đổi nhân cách, không có sa sút trí tuệ và không có rối loạn tâm thần.”

Theo hướng dẫn kết luận ở trên đối với người bị bệnh động kinh tuỳ theo trường hợp theo kết luận giám định tâm thần mà có trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và trường hợp có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Đối với “cấp độ” khác nhau của năng lực hành vi dân sự, tố tụng dân sự mà có quy định khác nhau về việc người bị bệnh động kinh được tham gia các giao dịch dân sự, tham gia tố tụng dân sự khác nhau theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Và trong bài viết này chúng tôi chỉ giới hạn trường hợp người bị động kinh (được hiểu là đã xác định khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi) có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn hay không?

b/ Quy định về ly hôn khi vợ, chồng bị bệnh động kinh

Hiện nay, tuy chưa có quy định hay hướng dẫn thực hiện đối với trường hợp người bị động kinh yêu cầu giải quyết ly hôn cũng như trường hợp bên bị yêu cầu ly hôn là người bị động kinh. Thiết nghĩ, trong giai đoạn chưa có hướng dẫn cụ thể có thể vận dụng các quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 để xác định tư cách của đương sự là người bị bệnh động kinh trong vụ án ly hôn.

Ly hôn với một bên bị bệnh động kinh có ba trường hợp xảy ra, trường hợp thứ nhất người vợ (chồng) bình thường yêu cầu giải quyết ly hôn với người còn lại là người bị bệnh động kinh mà đã xác định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quyết định của toà án. Trường hợp thứ hai, là người bị bệnh động kinh đã xác định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi yêu cầu ly hôn với người còn lại. Và trường hợp nữa là ly hôn với một bên bị bệnh động kinh nhưng chưa có quyết định tuyên bố người này có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

b1/ Trường hợp thứ nhất người vợ (chồng) yêu cầu giải quyết ly hôn với người còn lại bị bệnh động kinh (được hiểu là xác định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi)

Khi bị đơn là người bị bệnh động kinh được xác định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quyết của Toà án vậy thì có thể tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong vụ án ly hôn hay không?

Theo khoản 3, Điều 69, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 “Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa án”.

Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là không đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi? Mức độ như thế nào thì được xem là không đủ. Từ “không đủ” khác so với quy định “mất năng lực hành vi dân sự”. Mất là cá nhân đó không còn khả năng nhận thức, làm chủ hành vi được nữa, “không đủ” được xem là vẫn có khả năng nhận thức nhưng cấp độ không đầy đủ. Như vậy, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi vẫn còn một phần khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình; thế nên, ranh giới phân biệt giữa quy định tại Điều 22 và Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015 được quyết định bởi yếu tố “không đủ”. Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cũng như chỉ định người giám hộ thì phải có phần xác định phạm vi quyền, nghĩa vụ của người giám hộ, phạm vi năng lực hành vi dân sự, hành vi tố tụng dân sự của chủ thể bị tuyên bố. Tuy nhiên, thực tiễn vận dụng quy định này vẫn còn khá lúng túng và chưa có hướng dẫn cụ thể.

Ví dụ: ông T bà L là cha mẹ của bà D gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do bà D bị tâm thần phân liệt. Tòa án xác định khi được sinh ra và lớn lên thì tình trạng sức khỏe của bà D ban đầu vẫn bình thường, nhưng kể từ thời điểm năm 19 tuổi thì bà D bắt đầu có các vấn đề về tâm thần kinh, thuộc đối tượng bị khuyết tật tâm thần phân liệt mức độ nặng, có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Do bị bệnh nên khả năng nhận thức của bà D bị hạn chế, thường không có khả năng nhận thức và thể hiện được ý chí của mình. Mặt khác, kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 328/2020/KLGĐYC ngày 10/12/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần X đối với bà D, xác định:

Về y học, hiện tại, đương sự có bệnh lý tâm thần: Tâm thần phân liệt thể không biệt định, giai đoạn bệnh thuyên giảm (F20.3 – ICD10);

Về năng lực, hiện tại, đương sự có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Căn cứ vào đó, Tòa án quyết định tuyên bố bà D là người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi và chỉ định ông T bà L là người giám hộ của bà D mà không đưa ra giới hạn bất kỳ nào về việc tham gia giao dịch dân sự hay tham gia hoạt động tố tụng để có năng lực hành vi tố tụng dân sự.

Như vây, rõ ràng, quyết định này với nội dung cũng không khác so với quyết định tuyên bố người bị mất năng lực hành vi dân sự về mặt hệ quả pháp lý.

Rõ ràng, giới hạn về năng lực tham gia tố tụng của chủ thể bị tuyên bố có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không khác gì đối với người bị mất năng lực hành vi dân sự. Tòa án không đưa ra bất kỳ phạm vi đại diện nào của người giám hộ cũng như về khả năng tự mình thực hiện giao dịch dân sự hay tham gia tố tụng khi tính “không đủ” mất năng lực hành vi dân sự tồn tại.

Thiết nghĩ có thể áp dụng pháp luật tương tự về người có khó khăn nhận thức, làm chủ hành vi có thể tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc yêu cầu tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hay trong trường hợp cử người giám hộ cho người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được sự đồng ý của chính người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đó, được quy định tại khoản 2, Điều 46, Bộ luật Dân sự 2015 “2. Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu”.

Và khoản 2, Điều 376 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 “2. Người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố họ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự”.

Theo đó, trong trường hợp người bị bệnh động kinh tại thời điểm giải quyết ly hôn mà họ có năng lực thể hiện ý chí của mình thì Toà chấp nhận tư cách pháp lý bị đơn của họ và tiến hành giải quyết thủ tục ly hôn theo quy định.

b.2/ Trường hợp thứ hai người vợ (chồng) bị bệnh động kinh yêu cầu ly hôn với người còn lại. 

Như trình bày ở mục b.1, người bị bệnh động kinh là vợ (chồng) thì cũng tương tự như vậy, nếu trong trường hợp họ có năng lực thể hiện được ý chí của mình thì toà án giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung.

b.3/ Ly hôn với một bên bị bệnh động kinh nhưng chưa có quyết định của Toà người đó có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015  và Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không có qui định riêng về trường hợp ly hôn với người bị bệnh động kinh. Trên thực tế ít nhiều có trường hợp ly hôn với một bên bị bệnh động kinh. Chúng tôi chỉ có thể xem xét quan điểm của Toà thông qua những bản án hiện nay và hoặc thông qua quan điểm của Toà qua những công văn giải đáp về vấn đề người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác làm ảnh hưởng khả năng nhận thức, điều khiển hành vi.

Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 4 năm 2017 của TANDTC về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ, có tình huống đặt vấn đề: Trong vụ án dân sự, đương sự có dấu hiệu tâm thần nhưng chưa có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án giải quyết như thế nào? TANDTC giải đáp: …”khi có chủ thể cho rằng một người là đương sự trong vụ án mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án phải giải thích, hướng dẫn để họ thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự theo quy định …; trường hợp họ có yêu cầu và Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu này thì Tòa án áp dụng điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; trường hợp họ không yêu cầu thì Tòa án giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục chung”. 

Như vậy, theo giải đáp trong trường hợp này có thể áp dụng tương tự trường hợp người bị bệnh động kinh mà không có tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà khi ly hôn được Toà án thụ lý và giải quyết theo quy định.

Kết luận:

Theo phân tích ở trên, vấn đề đặt ra Toà xác định họ có năng lực thể hiện ý chí của người bị bệnh động kinh được xác định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi như thế nào? Và Toà xác định người bị bệnh động kinh được xác định có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có năng lực thể hiện ý chí của mình vào thời điểm thụ lý, chuẩn bị xét xử hay khi phiên toà được diễn ra? Đây chính là vướng mắc hiện nay, làm sao để đảm bảo quyền, lợi ích cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi ở mức cao nhất có thể khi họ có năng lực thể hiện ý chí của mình trong việc tham gia tố tụng dân sự. Vì vậy, khi tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, Tòa án cần xác định phạm vi đại diện của người giám hộ, bao gồm trong đời sống và cả khi tham gia tố tụng. Tiếp đó, cần thiết xây dựng các quy định về quy trình tham gia tố tụng của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi từ giai đoạn chuẩn bị xét xử đến khi vụ việc được kết thúc. Cụ thể, phiên tòa có sự tham gia của họ cần có kiểm sát viên kiểm sát hoạt động tuân theo pháp luật. Trong quá trình xét xử vụ án dân sự, cần phải có quy định riêng về việc lấy ý kiến, quyền được tham gia phiên tòa của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nếu họ còn có một phần khả năng nhận thức. Điều này sẽ đảm bảo được tính toàn diện trong việc xem xét vụ việc mà có sự tham gia của nhóm đối tượng người yếu thế đặc biệt, bảo vệ được sự công bằng, tính khách quan tuyệt đối trong pháp luật tố tụng.


Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến vấn đề hôn nhân và gia đình. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879