PHÁP LUẬT VỀ BẠO LỰC TRẺ EM

luбє­t duy hЖ°ng

Bạo lực trẻ em là một trong những vấn đề xã hội nghiêm trọng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tinh thần và sự phát triển toàn diện của trẻ. Các hành vi bạo lực trẻ em có thể diễn ra dưới nhiều hình thức như bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, xâm hại tình dục, bỏ mặc hoặc ngược đãi trẻ em. Pháp luật Việt Nam hiện nay có nhiều quy định nhằm bảo vệ trẻ em, xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ. Việc nhận diện đúng các dấu hiệu bạo lực trẻ em, hiểu rõ trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội cũng như các chế tài pháp lý áp dụng đối với người vi phạm là yếu tố quan trọng để ngăn chặn và phòng ngừa tình trạng này. Bài viết dưới đây sẽ phân tích các quy định pháp luật liên quan đến bạo lực trẻ em, quyền được bảo vệ của trẻ em và những vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn.

Theo thống kê của tổ chức UNICEF Việt Nam gần 3/4 trẻ em bị kỷ luật bằng bạo lực trong gia đình, 1/5 trẻ em bị bắt nạt trên không gian mạng và ước tính 1/5 người chưa thành niên phải đối mặt với vấn đề sức khỏe tâm thần đây là con số đáng báo động. Vậy bạo lực trẻ em là gì? Pháp luật quy định ra sao về phòng, chống bạo lực trẻ em? Người bạo lực trẻ em sẽ bị xử lý như thế nào? Hãy cùng Luật Duy Hưng tìm hiểu về bạo lực trẻ em và quy định pháp luật bạo lực trẻ em tại bài viết sau:

Bạo lực trẻ em là gì?

Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật trẻ em 2016 quy định về xâm hại trẻ em thì “Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác” và tại khoản 6 Điều 4 Luật trẻ em 2016 có quy định: “Bạo lực trẻ em là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em”.

Theo đó hành vi bạo lực trẻ em có thể là một trong số các hành vi sau:

Bạo lực thể chất: đánh, tát, đấm, đốt, trói…

– Bạo lực tinh thần: chửi mắng, đe dọa, làm nhục, cô lập.

– Xâm hại tình dục: mọi hành vi tình dục ép buộc hoặc lợi dụng trẻ.

– Bỏ bê: không chăm sóc ăn uống, y tế, giáo dục hoặc an toàn cơ bản.

Bạo lực trên mạng: bắt nạt, phát tán hình ảnh, đe dọa qua internet.hành hạ trẻ em

Các quy định về phòng, chống bạo lực trẻ em?

Liên hợp quốc là tổ chức đầu tiên có quy định về phòng, chống bạo lực trẻ em. Tại Điều 19 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989 (CRC) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1989 có quy định: “Các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả các biện pháp lập pháp, hành chính, xã hội và giáo dục thích hợp để bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực thể chất hoặc tinh thần, tổn thương hoặc lạm dụng, bỏ bê hoặc đối xử thiếu trách nhiệm, ngược đãi hoặc bóc lột, bao gồm cả lạm dụng tình dục, trong khi trẻ em đang được cha mẹ, người giám hộ hợp pháp hoặc bất kỳ người nào khác chăm sóc”. Bằng quy định này Công ước đã thiết lập một nền tảng pháp lý đầy đủ để các quốc gia có thể tăng cường bảo vệ trẻ em hơn nữa khỏi bất kỳ hình thức bạo lực, xâm phạm tới thể chất cũng như tinh thần hoặc sự phát triển bình thường của trẻ.

Việt Nam là một trong những thành viên đầu tiên phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Dựa trên nội dung của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC) Việt Nam lần đầu tiên quy định về việc cấm bạo lực trẻ em được đề cập tới tại Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991, đến hiện tại Việt Nam đã hoàn thiện hơn các quy định về bạo lực trẻ em tại Luật trẻ em 2016.

Trong đó Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc là một trong những quyền trẻ em được hưởng được đề cập rất rõ ràng tại Điều 27 Luật trẻ em 2016:

Điều 27. Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc

Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em

Luật Trẻ em 2026 cũng quy định nghiêm cấm hành vi “Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em”. (Khoản 3 Điều 6)

Ngoài quy định về cấm bạo lực trẻ em trên phạm vi rộng, Việt Nam còn quy định việc cấm bạo lực trẻ em trong phạm vi gia đình theo quy định tại Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2022. Căn cứ quy định tại Điều 3 và Điều 5 Luật phòng chống bạo lực gia đình 2022 quy định về các hành vi bạo lực trẻ em bị nghiêm cấm thực hiện trong gia đình bao gồm:

– Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

– Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

– Cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

– Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của trẻ em.

– Ngăn cản trẻ em gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

– Cưỡng ép trình diễn hành vi khiêu dâm; cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung khiêu dâm, kích thích bạo lực;

–  Cưỡng ép trẻ em học tập, lao động quá sức quá khả năng của trẻ.

– Cô lập, giam cầm thành viên gia đình là trẻ em.

Như vậy, các quy định của Công ước CRC và các văn bản pháp lý đã quy định rõ các hành vi bị cấm để ngăn cấm tình trạng bạo lực trẻ em dưới mọi hình thức, từ bạo lực trẻ em trong cộng đồng, tới bạo lực trẻ em tại cơ sở giáo dưỡng, đến các hình thức bạo lực trẻ em mang tính hệ thống mà còn có nghĩa vụ phải thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để bảo đảm rằng mỗi một đứa trẻ phải được bảo vệ trước mọi hình thức bạo lực.

Quy định pháp luật về xử lý các đối tượng có hành vi bạo lực trẻ em như thế nào?

Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em. Tại khoản 1 Điều 37 Hiến pháp 2013 có quy định Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em. Theo đó mọi hành vi bạo lực trẻ em sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Hiện nay, pháp luật có quy định về các phương án xử lý các đối tượng có hành vi bạo lực trẻ em như sau:

– Xử lý vi phạm hành chính: Người bạo lực trẻ em sẽ bị xử lý xử phạt vi phạm hành chính khi mức độ vi phạm chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Theo quy định tại Điều 23 Nghị định  98/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2026 của chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2026 quy định về mức xử phạt đối với hành vi bạo lực trẻ em như sau:

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sau:

a) Bắt nhịn ăn; bắt nhịn uống; không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;

b) Bắt sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc các hình thức đối xử tồi tệ khác với trẻ em;

c) Gây tổn hại về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng mạ, chửi mắng, đe dọa, cách ly ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em;

d) Cô lập, xua đuổi hoặc dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em;

đ) Thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn hại về tinh thần.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này mà gây ra thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe trẻ em đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này.”

– Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Người bạo lực trẻ em sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi của người đó có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, bao gồm:

– Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội (VD: quyền sống, quyền sở hữu,……)

– Chủ thể của tội phạm: Là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi.

– Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của bên ngoài tội phạm. Mặt khách quan bao gồm: hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả và các yếu tố khác như thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm; công cụ, phương tiện mà người phạm tội sử dụng để thực hiện tội phạm.

– Mặt chủ quan của tội phạm: Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện về mặt tâm lý của người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại khi thực hiện hành vi phạm tội hay còn gọi là mặt bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.

Tùy thuộc vào mối quan hệ giữa người có hành vi bạo lực với trẻ em bị bạo lực và hậu quả gây ra, người có hành vi bạo lực trẻ em có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau: Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185), Tội hành hạ người khác (Điều 140), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác (Điều 134), Tội vô ý làm chết người (Điều 128)Tội giết người (Điều 123), Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi (Điều 146), Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142).

Điều 185. Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

1. Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

Điều 140. Tội hành hạ người khác

1. Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên.

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Điều 128. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Đối với người dưới 10 tuổi;

d) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Khi phát hiện hành vi bạo lực trẻ em người phát hiện cần làm gì?

Khi phát hiện có hành vi bạo lực trẻ em các Cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân có trách nhiệm thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em, trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi đến cơ quan có thẩm quyền theo các cách như sau:

– Thông tin, thông báo, tố giác hành vi trực tiếp tại: Cơ quan lao động – thương binh và xã hội, Cơ quan công an các cấp và Ủy ban nhân dân cấp xã.

– Gọi điện thoại tới tổng đài Quốc gia bảo vệ trẻ em 111.


Trên đây là một số nội dung cơ bản về Bạo lực trẻ em và các quy định pháp luật về bạo lực trẻ em. Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến lĩnh vực hình sự, mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác tại đây. Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các cách thức sau để được tư vấn Miễn phí.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.

  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879