Hiện nay, tình trạng cây đổ, gãy trên đường khi mưa, bão, giông … không phải là chuyện hiếm gặp, đặc biệt tại nội thành các thành phố lớn với lượng người qua lại đông đúc như Hà Nội, TP.HCM,…. Vậy khi mưa bão khiến cây đổ làm hư hại tài sản hoặc dẫn đến chết người đi đường thì ai phải bồi thường? Luật Duy Hưng xin chia sẻ cho bạn đọc về vấn đề này trong bài viết dưới đây:
Xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường
Điều 604 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra như sau: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.”
Như vậy, nếu có thiệt hại về người, tài sản… cho người đi đường khi cây bị gãy, đổ… thì cá nhân, đơn vị chủ sở hữu, chiếm hữu, được giao chăm sóc cây xanh phải chịu trách nhiệm bồi thường, cụ thể:
Chủ sở hữu cây
Căn cứ Điều 604 BLDS 2015 thì chủ sở hữu cây phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra. Tuy nhiên, cây cối không phải là đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu như xe ô tô và cũng không có cơ ché đăng ký tự nguyện đối với cây cối nên xác định ai là chủ sở hữu cây thế nào?
Trường hợp cây mọc trên đất thì thông thường ai là chủ quyền sử dụng đất sẽ mặc nhiên được thừa nhận là chủ sở hữu đối với cây cối trên đất.
Tuy nhiên, trường hợp chủ quyền sử dụng đất của một người nhưng đã chuyển quyền sử dụng đất cho một người khác bằng phương thức thuê, mượn,… thì nếu các bên không bàn giao cây cối cho nhau và không thực hiện thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thì chủ sử dụng đất hợp pháp vẫn là người chịu trách nhiệm bồi thường.
Người chiếm hữu, người được giao quản lý cây
Người chiếm hữu được chuyển giao nghĩa vụ với cây cối trong trường hợp thuê nhà, thuê đất, công trình có cây trồng trên đất thông qua sự thỏa thuận.
Người được giao quản lý cây cối là người được chủ sở hữu (Nhà nước) phân công trách nhiệm trông coi, chăm sóc cây cối; hoặc tổ chức, đoàn thể giao cho chủ thể nhất định quản lý, chăm sóc cây cối. Ví dụ như: Công ty quản lý cây xanh
Người chiếm hữu, người được giao quản lý, chăm sóc cây cối phải có trách nhiệm theo dõi, phát hiện, ngăn chặn những nguy cơ tiềm ẩn mà cây cối có thể gây ra để khắc phục; nếu để cây cối gãy, đổ… gây thiệt hại cho người khác thì người chiếm hữu, người được giao quản lý phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường
Căn cứ Khoản 2,3 Điều 584 BLDS 2015 quy định:
“2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”
Như vậy, không phải bất cứ lúc nào người bị thiệt hại cũng có thể được bồi thường mà chủ sở hữu, người chiếm hữu quản lý cây cối sẽ không phải bồi thường thiệt hại nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
Sự kiện bất khả kháng
Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.”
Như vậy, nếu chủ sở hữu hoặc đơn vị quản lý cây đã làm mọi biện pháp như cắt tỉa các cành cây, buộc cây, gia cố gốc cây, lắp cột chống gãy đổ… nhằm hạn chế tai nạn xảy ra cho người đi đường nhưng mưa bão gây gió to gió mạnh làm cây xanh vẫn đổ, bật gốc. Đây là điều không ai mong muốn, dù đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép nhưng tai nạn vẫn xảy ra. Trường hợp này thì chủ sở hữu cây, người chiếm hữu, quản lý cây thì không phải bồi thường.
Nếu bão tố đã được dự báo từ trước mà các chủ thể không có biện pháp khắc phục phù hợp thì không được coi là sự kiện bất khả kháng
Hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại
Ví dụ như tuyến đường có biển cấm dừng đỗ. Bên bị thiệt hại không chấp hành đúng luật giao thông mà dừng đỗ ngay bên đường, vô tình cây đổ sập đè lên ô tô khiến người lái ô tô bị thiệt mạng. Trường hợp này, người bị thiệt hại đã có lỗi là vi phạm luật giao động dừng đỗ trái quy định và có biển báo.
Lúc này, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu quản lý cây phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu không thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro như gia cố gốc cây, lắp biển cảnh báo,…. Ngược lại, sẽ không phải chịu trách nhiệm nếu đã thực hiện đủ mọi biện pháp hạn chế nhưng cây vẫn đổ gây tai nạn do lỗi hoàn toàn người đi đường. Nếu họ chấp hành đúng luật giao thông thì hậu quả đáng tiếc sẽ không xảy ra.
Mức bồi thường thiệt hại khi cây đổ làm chết người
Cây đổ làm chết người tức là xảy ra thiệt hại khi xâm phạm tính mạng người khác. Căn cứ Khoản 1 Điều 591 BLDS 2015 thì thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
Như vậy, mức bồi thường thiệt hại khi cây đổ làm chết người gồm:
– Thiệt hại về sức khoẻ tính từ thời điểm sức khoẻ của nạn nhân bị xâm phạm cho đến khi người đó chết gồm: Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hội sức khoẻ và chức năng bị mất, chi phí khám chữa bệnh, thuê xe chở hai chiều đi khám và về nơi ở, chi phí bồi dưỡng sức khoẻ xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng/ngày khám bệnh theo địa bàn nơi có cơ sở khám chữa bệnh theo số ngày trong bệnh án…
– Chi phí mai táng gồm các khoản như mua quan tài, hoả táng hoặc chôn cất, các vận dụng được sử dụng để khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang… Trong đó không bao gồm chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ và bốc mộ.
– Tiền cấp dưỡng cho người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc nuôi dưỡng trước khi chết căn cứ vào thu nhập và khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng cũng như nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng nhưng một tháng không thấp hơn 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng cư trú.
– Người bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe còn được bồi thường thiệt hại về tinh thần. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với tính mạng và không quá 30 tháng lương tối thiểu nếu gây thiệt hại về sức khỏe.
Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến dân sự. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.- VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
- Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
- Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879 – Zalo: Luật Duy Hưng - Email: luatduyhung@gmail.com
- Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
- Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"








