Mua đồ trộm cắp, hay còn gọi là tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là hành vi vi phạm pháp luật tại Việt Nam. Theo quy định của Bộ luật Hình sự, nếu một người biết rõ tài sản đó là do trộm cắp, lừa đảo, hoặc phạm tội khác mà có nhưng vẫn mua, giữ, vận chuyển, bán, hoặc đổi chác, thì có thể bị xử lý hình sự. Cụ thể:
Xử lý hình sự:
Hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự. Mức phạt tù có thể lên đến 7 năm, tùy vào giá trị tài sản và tính chất của hành vi.
Xử lý hành chính:
Nếu hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng vẫn vi phạm pháp luật, người mua có thể bị xử phạt hành chính. Mức phạt cụ thể được quy định trong Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính.
Bồi thường thiệt hại:
Người tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có cũng có thể bị buộc hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu hoặc bồi thường thiệt hại nếu đã làm mất, hỏng tài sản.
Vì vậy, nếu người mua phát hiện hoặc nghi ngờ rằng tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp, tốt nhất là không nên mua hoặc giao dịch để tránh rủi ro pháp lý.
Về trách nhiệm dân sự:
Ngoài việc có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự đối với việc mua tài sản trộm cắp, người mua đồ trộm cắp còn bị chủ sử hữu hợp pháp đòi lại tài sản. Cụ thể như sau:
Việc xác định chủ sở hữu có quyền được đòi tài sản hay không phụ thuộc vào việc chiếm hữu tài sản đó có căn cứ pháp luật hay không, nếu việc chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật thì chủ sở hữu có quyền đòi lại theo quy định tại Khoản 1 Điều 166 BLDS 2015 về quyền đòi lại tài sản “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.”
– Trường hợp người mua biết đó là tài sản do trộm cắp mà vẫn mua thì việc chiếm hữu này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và chủ sở hữu hoàn toàn có quyền đòi lại tài sản đó.
– Trong trường hợp người mua không biết tài sản trộm cắp mặc dù tài sản này bắt buộc phải đăng ký hay không đăng ký quyền sở hữu thì chủ sở hữu vẫn có quyền đòi lại tài sản theo quy định tại Điều 167 và 168 BLDS 2015. Khi đó người mua có thể yêu cầu người bán hoàn trả lại số tiền đã mua tài sản đó, trường hợp người bán không đồng ý trả thì người mua có quyền khởi kiện để yêu cầu hoàn trả lại tiền mua tài sản đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu có.
– Trường hợp duy nhất mà chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình đó là quy định tại Khoản 2, 3 Điều 133 BLDS 2015, theo đó người thứ ba có được động sản vì căn cứ vào việc cho rằng động sản đó đã được đăng ký quyền sở hữu để thực hiện và xác lập giao dịch thì chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản. Nhưng chủ sở hữu vẫn có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.

Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến việc MUA ĐỒ TRỘM CẮP CÓ BỊ CHỦ SỞ HỮU ĐÒI LẠI KHÔNG. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website: http://luatduyhung.com.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.- VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
- Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
- Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879 – Zalo: Luật Duy Hưng - Email: luatduyhung@gmail.com
- Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
- Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"

