Lệnh khám xét nhà là gì?
Lệnh khám xét nhà là văn bản tố tụng hình sự do người có thẩm quyền ban hành, cho phép tiến hành khám xét chỗ ở của cá nhân nhằm phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật, phương tiện liên quan đến vụ án hình sự.
Theo Điều 12 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân quy định: “Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân”.
Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.”
Như vậy, việc khám xét chỗ ở phải được tiến hành công khai, đúng phạm vi ghi trong lệnh khám xét, bảo đảm tôn trọng danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người bị khám xét. Mọi hành vi khám xét trái thẩm quyền, không có lệnh hợp pháp hoặc không tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật đều bị coi là vi phạm pháp luật tố tụng hình sự và có thể dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng.
Quy định về khám xét nhà ở.
Theo Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì việc khám xét nhà người khác được quy định như sau:
– Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và hai người chứng kiến.
– Không được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
– Khi khám xét nơi làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
– Việc khám xét nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Trong trường hợp không có đại diện cơ quan, tổ chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và 02 người chứng kiến.
– Khi khám xét địa điểm phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và người chứng kiến.
– Việc khám xét phương tiện phải có mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện và người chứng kiến. Trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có hai người chứng kiến.
– Khi khám xét phương tiện có thể mời người có chuyên môn liên quan đến phương tiện tham gia.
– Khi tiến hành khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xét xong.
Thẩm quyền ra lệnh khám xét nhà
Căn cứ quy định tại Điều 193 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), những người sau đây có thẩm quyền ra lệnh khám xét nhà gồm:
+/ Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của BLTTHS 2015 quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của BLTTHS 2015 phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
+/ Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của BLTTHS 2015 có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
+/ Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấpvề thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.
+/ Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định tại Điều 178 của BLTTHS 2015 và đưa vào hồ sơ vụ án.
Thủ tục khám xét nhà theo quy định pháp luật
Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên có trách nhiệm thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để Viện kiểm sát cử Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Việc có sự tham gia của Kiểm sát viên nhằm bảo đảm hoạt động khám xét được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và không xâm phạm trái pháp luật đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan.
Trong quá trình khám xét, Kiểm sát viên phải có mặt để trực tiếp kiểm sát việc thực hiện. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì phải ghi rõ lý do vào biên bản khám xét theo quy định của pháp luật.
Mọi trường hợp khám xét đều phải lập biên bản theo đúng quy định tại Điều 178 BLTTHS 2015, phản ánh đầy đủ diễn biến, kết quả của việc khám xét và được đưa vào hồ sơ vụ án làm căn cứ phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử.
Người bị khám nhà cần biết.
Lệnh khám xét nhà là biện pháp tố tụng hình sự quan trọng, được áp dụng nhằm phục vụ hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự. Tuy nhiên, do trực tiếp liên quan đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư và các quyền nhân thân cơ bản của công dân, việc ban hành và thi hành lệnh khám xét phải được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng căn cứ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Mọi hành vi khám xét không có lệnh hợp pháp, vượt quá phạm vi cho phép hoặc không tuân thủ đầy đủ các quy định về phê chuẩn, kiểm sát và lập biên bản đều bị coi là vi phạm pháp luật tố tụng hình sự, có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý và ảnh hưởng đến giá trị chứng cứ của tài liệu, đồ vật thu thập được. Do đó, việc bảo đảm tính hợp pháp, minh bạch và chặt chẽ trong hoạt động khám xét không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm mà còn là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự.
Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực hình sự, Quý khách tham khảo các bài viết kháctại đây.
Block "ket-bai-viet" not found










