Giám đốc thẩm hình sự là gì?
Căn cứ Điều 370 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.
Khi nào được kháng nghị giám đốc thẩm?
Căn cứ Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chỉ khi có một trong các căn cứ:
+/ Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;
+/ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;
+/ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Ai có quyền kháng nghị giám đốc thẩm hình sự?
Căn cứ vào quy định tại Điều 373 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) những người có quyền kháng nghị gồm theo thủ tục giám đốc thẩm gồm:
+/ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
+/ Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.
+/ Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:
+/ Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
+/ Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.
+/ Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
+/ Nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì người có quyền kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị.
Quy định về thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thể hiện sự cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm tính ổn định của bản án đã có hiệu lực pháp luật và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kết án, đặc biệt trong trường hợp cần khắc phục oan sai.
Như vậy, quy định về giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm công lý và tính đúng đắn của pháp luật. Trước hết, đây là cơ chế giúp khắc phục những sai lầm nghiêm trọng trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, từ đó hạn chế oan sai và bảo vệ quyền con người. Đồng thời, giám đốc thẩm còn góp phần bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất, nâng cao chất lượng xét xử và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng.