Tái thẩm vụ án hình sự là gì?
Căn cứ Điều 397 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về tính chất của tái thẩm trong vụ án hình sự là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó.
Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm vụ án hình sự
Căn cứ Điều 398 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ:
+/ Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật;
+/ Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án;
+/ Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;
+/ Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Căn cứ Điều 400 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm gồm:
+/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
+/ Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.
+/ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được quy định rõ nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa công lý và tính ổn định của bản án đã có hiệu lực pháp luật. Theo Điều 401 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với trường hợp tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án, việc kháng nghị chỉ được thực hiện trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự và không quá 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới.
Trong trường hợp tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án, pháp luật không hạn chế về thời gian, kể cả khi người bị kết án đã chết mà cần minh oan. Đối với phần dân sự trong vụ án hình sự, việc kháng nghị tái thẩm được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc bảo vệ quyền con người, đồng thời vẫn bảo đảm tính nghiêm minh và ổn định của pháp luật.
Sự khác nhau giữa kháng nghị theo thủ tục tái thẩm và giám đốc thẩm
Tái thẩm và giám đốc thẩm đều là thủ tục đặc biệt nhằm xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên tái thẩm xuất phát từ tình tiết mới làm thay đổi bản chất vụ án, còn giám đốc thẩm nhằm khắc phục những sai lầm pháp lý trong quá trình xét xử.
Tham khảo thêm bài viết: Giám đốc thẩm hình sự là gì? Cập nhật quy định mới
Như vậy, tái thẩm vụ án hình sự là cơ chế đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm các bản án đã có hiệu lực pháp luật phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án khi xuất hiện tình tiết mới. Quy định về tái thẩm không chỉ góp phần khắc phục những thiếu sót trong xét xử mà còn bảo vệ quyền con người, hạn chế oan sai và củng cố niềm tin vào công lý. Việc áp dụng đúng và kịp thời thủ tục tái thẩm sẽ giúp hệ thống tư pháp vận hành minh bạch, công bằng và ngày càng hoàn thiện hơn.