CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

luбє­t duy hЖ°ng

Trên thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong nhiều trường hợp các chủ thể không thể hoặc không muốn tự mình tham gia vào một số giao dịch nhất định. Lúc này, họ cần đến một người có thể thay mặt họ xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự “nhân danh và vì lợi ích” của họ. Xuất phát từ nhu cầu và sự thừa nhận các dạng quan hệ này trong thực tế, pháp luật dân sự đã ghi nhận quan hệ đại diện cũng như các cơ chế để thực hiện quan hệ này.

Chế định đại diện theo Bộ luật Dân sự 2015 được quy định như thế nào? Trong đời sống hiện nay, nhu cầu ủy quyền và thay mặt nhau trong các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại ngày càng trở nên phổ biến và thiết yếu. Việc nghiên cứu chế định đại diện trong Bộ luật Dân sự 2015 không chỉ có ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn mang giá trị thực tiễn cao, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và hoàn thiện thể chế pháp lý trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. Hãy cùng Luật Duy Hưng tìm hiểu về “Chế định đại diện theo Bộ luật Dân sự 2015” qua bài viết dưới đây.

Đại diện là gì?

Đại diện là một chế định quan trọng trong đời sống pháp lý xã hội. Bất kỳ hệ thống pháp luật nào cũng đều xem chế định đại diện có ý nghĩa quan trọng, trung tâm của luật dân sự hiện đại.

CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015Căn cứ Điều 134 BLDS 2015 quy định: “1. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.”

Theo đó, chủ thể của quan hệ đại diện bao gồm: Người đại diện và Người được đại diện.

Người đại diện – Là người nhân danh người được đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba, vì lợi ích của người được đại diện.

Người được đại diện – Là người tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan hệ từ quan hệ do người đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền đại diện. Người được đại diện có thể là cá nhân không có năng lực hành vi, chưa đủ năng lực hành vi dân sự.

Lưu ý: Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Tuy nhiên, cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.

Có mấy hình thức đại diện?

Việc phát sinh quan hệ đại diện được xác lập dưới 02 hình thức: Đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền.

Đại diện theo pháp luật

Căn cứ Điều 135 BLDS 2015, Đại diện theo pháp luật là đại diện được xác lập thông qua quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân, hoặc theo quy định của pháp luật.

Như vậy, đối tượng của người đại diện theo pháp luật có thể là: cá nhân hoặc pháp nhân.

Đại diện theo pháp luật của cá nhân

Theo Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015, đại diện theo pháp luật của cá nhân bao gồm:

– Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

– Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

– Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 136 BLDS 2015.

– Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Đại diện theo pháp luật của pháp nhân

Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định tại khoản 1 Điều 137 BLDS 2015, bao gồm:

– Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;

– Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;

– Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Ngoài ra, một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015. (Theo khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015)

Chẳng hạn, một pháp nhân là công ty cổ phần thì tuỳ vào điều lệ mà người đại diện theo pháp luật của công ty có thể là Chủ tịch HĐQT, hoặc có thể là Tổng Giám đốc/Giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền 

Căn cứ Điều 135 BLDS 2015, Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện.

Căn cứ Điều 138 BLDS 2015 quy định rõ về đại diện theo uỷ quyền như sau:

“1. Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2. Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.

3. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.”

Như vậy, Bên được đại diện là bên bằng ý chí của mình uỷ quyền cho bên kia thay mặt mình thực hiện một công việc nhất định. Nếu bên uỷ quyền là cá nhân thì cá nhân đó phải đủ điều kiện khi tham gia quan hệ uỷ quyền (tư cách chủ thể) theo quy định của pháp luật. Nếu bên uỷ quyền là pháp nhân thì việc uỷ quyền thông qua hành vi uỷ quyền của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó.

Bên đại diện là bên được bên kia uỷ quyền thực hiện công việc nhất định trong giao dịch với người thứ ba. Bên đại diện theo uỷ quyền có thể là cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

Chẳng hạn, Công ty TNHH ABC có Giám đốc là ông Nguyễn Văn A. Do bận công tác nước ngoài trong vòng 2 tháng, ông A ủy quyền cho bà Trần Thị B – Trưởng phòng Kinh doanh thay mặt mình thực hiện các công việc sau:

– Ký kết hợp đồng kinh tế với đối tác.

– Làm việc với cơ quan thuế về nghĩa vụ thuế của công ty.

– Ký các văn bản nội bộ liên quan đến hoạt động kinh doanh.

Phạm vi đại diện quy định như thế nào?

Căn cứ Điều 141 BLDS 2015, người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây:

– Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;

– Điều lệ của pháp nhân;

– Nội dung ủy quyền;

– Quy định khác của pháp luật.

Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định trên thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Theo đó, người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình.

Lưu ý: Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thời hạn đại diện quy định ra sao?

Căn cứ Điều 140 BLDS 2015, Thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.

Trường hợp không xác định được thời hạn đại diện theo quy định trên thì thời hạn đại diện được xác định như sau:

– Nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó;

– Nếu quyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện.

Đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây:

– Theo thỏa thuận;

– Thời hạn ủy quyền đã hết;

– Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;

– Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền;

– Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

– Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của BLDS 2015

– Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được.

Đại diện theo pháp luật chấm dứt trong trường hợp sau đây:

– Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;

– Người được đại diện là cá nhân chết;

– Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

– Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.


Trên đây là một số nội dung cơ bản về vấn đề “Chế định đại diện theo Bộ luật Dân sự 2015″. Để tham khảo thêm các vấn đề liên quan đến lĩnh vực Dân sự, mời bạn xem  Tại đây

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.

  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879