CHUNG SỐNG VỚI NHAU NHƯ VỢ CHỒNG ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO?
Có thể hiểu ‘sống chung như vợ chồng’ là thuật ngữ dùng để chỉ trường hợp nam nữ sống chung với nhau và xem nhau như vợ chồng, nhưng chưa hoặc không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình và pháp luật về hộ tịch.
Tình trạng này thường thể hiện qua việc có đời sống sinh hoạt chung, cùng nhau tạo lập tài sản chung và có con chung, đồng thời được gia đình và xã hội xung quanh công nhận là vợ chồng, mặc dù quan hệ này chưa có giá trị pháp lý như một cuộc hôn nhân hợp pháp.
CHUNG SỐNG VỚI NHAU NHƯ VỢ CHỒNG CÓ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ KHÔNG?
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 thì có 2 hình thức thừa kế gồm: Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật; trong đó:
– Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống theo quyết định của người để lại di sản trước khi chết thể hiện qua di chúc. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
– Thừa kế theo pháp luật là việc chuyển giao tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện thừa kế và trình tự từa kế do pháp luật quy định.
Do đó, việc nam nữ sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn thì có được hưởng thừa kế của nhau không sẽ được chia thành 2 trường hợp cụ thể như sau:
THỪA KẾ THEO DI CHÚC
Căn cứ quy định tại Chương XXII Bộ luật Dân sự 2015 thì người thành niên (đủ điều kiện theo quy định) có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Người lập di chúc có quyền sau đây:
– Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
– Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
– Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
– Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
– Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Như vậy, trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn có thể được hưởng thừa kế của nhau khi người để lại di sản có di chúc hợp pháp chỉ định người còn lại được thừa kế tài sản của mình.
Trong đó, di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
– Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
– Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện nêu trên.
Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Căn cứ quy định tại Chương XXIII Bộ luật Dân sự 2015 thì những người thừa kế theo pháp luật. vợ chồng hợp pháp (có đăng ký kết hôn) mới được xác định là những người thừa kế theo pháp luật của nhau, còn trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn thì không được xác định là người thừa kế theo pháp luật của nhau.
Tuy nhiên tại Mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ quy định một số trường hợp ngoại lệ trong quan hệ hôn nhân trước đây, dù không có đăng ký kết hôn nhưng vẫn được công nhận là hôn nhân thực tế, cụ thể như sau:
Trường hợp 1: Chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987
Căn cứ Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP đối với trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung… Như vậy, việc chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 vẫn được xem là vợ chồng mặc dù chưa đăng ký kết hôn.
Về thừa kế trong trường hợp này, nếu vợ/chồng mất thì người còn lại được hưởng phần di sản thừa kế theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 .
Trường hợp 2: Chung sống như vợ chồng sau ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001
Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP cũng quy định đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn trước ngày 01/01/2003. Nếu sau ngày này không đăng ký kết hôn thì vẫn không được xem là vợ chồng.
Vì vậy, sau ngày 01/01/2003 mà những người chung sống như vợ chồng ở trường hợp trên vẫn chưa đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng và không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.
Trường hợp 3: Chung sống như vợ chồng sau ngày 01/01/2001 đến nay
Việc nam nữ chung sống như vợ chồng sau ngày 01/01/2001 đến nay đã có những thay đổi cụ thể hơn.
Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2000 có quy định kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Và Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng chỉ ra rằng hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.
Như vậy, để trở thành vợ chồng hợp pháp thì yêu cầu nam nữ phải đăng ký kết hôn và xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Không còn công nhận việc nam nữ sống chung như vợ chồng sẽ trở thành vợ chồng hợp pháp.
Vì thế, thời điểm này, để được hưởng di sản thừa kế theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 thì bắt buộc nam nữ phải đăng ký kết hôn.Việc sống chung như vợ chồng nếu không đăng ký kết hôn sẽ không được pháp luật thừa nhận và không thuộc hàng thừa kế theo quy định pháp luật.
Trên đây, là một số quy định của pháp luật về việc thừa kế đối với các trường hợp Nam – Nữ sống chung như vợ chồng, để tìm hiểu thêm các nội dung khác có liên quan đến pháp luật hôn nhân gia đình đề nghị Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
- VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
- Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
- Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879 – Zalo: Luật Duy Hưng - Email: luatduyhung@gmail.com
- Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
- Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"







