Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là gì?
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.
Ví dụ: Ông A là Chủ tịch UBND xã, có thẩm quyền ký xác nhận hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất. Biết hồ sơ của ông B không đủ điều kiện theo quy định, nhưng vì được hứa hẹn sẽ nhận một khoản tiền nên ông A vẫn ký xác nhận đủ điều kiện để ông B hoàn tất thủ tục. Hành vi của ông A đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái công vụ, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Điều 356 Bộ luật Hình sự nếu đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Cấu thành tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
– Khách thể của tội phạm: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ trực tiếp xâm hại đến sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức; làm cho các cơ quan tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào Nhà nước.
– Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ thể hiện ở việc người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái công vụ, nhằm vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác.
Hành vi khách quan có thể là không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định, như ký ban hành quyết định trái pháp luật, xác nhận sai sự thật hoặc giải quyết công việc không đúng trình tự, thủ tục.
Đây là tội phạm có cấu thành vật chất, do đó hậu quả là dấu hiệu bắt buộc. Theo khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự, hành vi phạm tội phải gây thiệt hại về tài sản từ 10 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đáng lưu ý, tội phạm này không có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản, mà người phạm tội chỉ lợi dụng quyền hạn được giao để thực hiện hành vi trái công vụ.
– Mặt khách quan của tội phạm: là hành vi làm trái công vụ tức là không làm hoặc làm không đúng không đầy đủ nhiệm vụ được giao.
Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc, cụ thể là hành vi phạm tội phải gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
– Mặt chủ quan của tội phạm:
+/ Lỗi cố ý trực tiếp.
+/ Động cơ phạm tội xuất phát từ động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân.
Mức xử phạt đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định 03 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung đối với Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, cụ thể như sau:
– Khung hình phạt thứ nhất
Theo khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự:
“Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”
Như vậy, đối với trường hợp phạm tội thông thường, nếu hành vi gây thiệt hại từ 10 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại khác theo quy định của pháp luật, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
– Khung hình phạt tăng nặng
Theo khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự:
“Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.”
Đây là khung hình phạt áp dụng đối với các trường hợp có tính chất nguy hiểm hơn, như phạm tội có tổ chức, tái phạm nhiều lần hoặc gây thiệt hại lớn về tài sản.
– Khung hình phạt đặc biệt nghiêm trọng
Theo khoản 3 Điều 356 Bộ luật Hình sự:
“Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.”
Đây là khung hình phạt cao nhất của tội danh này, áp dụng đối với trường hợp gây thiệt hại đặc biệt lớn về tài sản.
– Hình phạt bổ sung
Ngoài hình phạt chính, khoản 4 Điều 356 Bộ luật Hình sự còn quy định:
“Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.”
Hình phạt bổ sung này nhằm ngăn ngừa người phạm tội tiếp tục lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng và các tội phạm về chức vụ.
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là một trong những tội phạm về chức vụ được quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự, nhằm bảo vệ hoạt động đúng đắn, minh bạch của cơ quan, tổ chức và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái công vụ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà còn làm suy giảm niềm tin của xã hội đối với đội ngũ cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước.
Theo quy định của pháp luật, tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra, người phạm Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có thể bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 15 năm, đồng thời còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ và phạt tiền. Vì vậy, mỗi cá nhân có chức vụ, quyền hạn cần thực hiện đúng nhiệm vụ được giao, tuân thủ quy định của pháp luật và đề cao trách nhiệm trong thi hành công vụ để góp phần xây dựng nền hành chính liêm chính, minh bạch và hiệu quả.
Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực hành chính, dân sự, hình sự, Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.



