Hôn nhân hợp pháp là việc kết hôn khi hai bên nam – nữ tuân thủ các quy định của pháp luật về kết hôn tại thời điểm kết hôn và có đăng ký kết hôn. Hôn nhân thực tế là trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng và thỏa mãn những điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận hôn nhân hợp pháp, được giải quyết quyền, lợi ích và nghĩa vụ như hôn nhân hợp pháp. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu về các mốc thời gian để xác định quan hệ hôn nhân thực tế:
1. Thế nào là nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng?
Căn cứ điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, nam nữ được coi là sống chung với nhau như vợ chồng khi đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và thuộc một trong các trường hợp sau:
– Có tổ chức lễ cưới;
– Được gia đình chấp thuận;
– Việc chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
– Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình
Theo đó, thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
2. Xác định quan hệ hôn nhân qua các mốc thời gian
Căn cứ theo thông tư liên tịch số 01/2001/TANDTC ngày 03 tháng 01 năm 2001, có thể căn cứ vào 3 mốc thời gian chính như sau:
2.1. Nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 03/01/1987
Thời điểm này không bắt buộc phải đăng ký kết hôn mà chỉ khuyến khích đăng ký kết hôn. Như vậy, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 dù có đăng ký kết hôn hay không có đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng vẫn được pháp luật công nhận.
Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng như đã nêu ở mục 1. Trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.
2.2. Nam nữ sống chung như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001
Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng ở thời điểm này đủ điều kiện kết hôn thì pháp luật quy định một thời hạn để họ đi đăng ký kết hôn. Thời hạn đăng ký chậm được quy định là 02 năm (từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003) để dành quyền cho họ hợp pháp hóa quan hệ vợ chồng, cụ thể:
– Từ ngày 01/01/2001 đến 01/01/2003, nam nữ sống chung như vợ chồng đăng ký kết hôn đúng hạn sẽ được tính thời kỳ hôn nhân hợp pháp từ thời điểm xác lập quan hệ vợ chồng.
– Kể từ sau ngày 01/01/2003 nam nữ sống chung như vợ chồng mới đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn. Tức là, họ đã tự từ bỏ khả năng công nhận thời kỳ hôn nhân hợp pháp của toàn bộ quá trình chung sống trước đó.
– Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.
2.3. Nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ 01/01/2001
Đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp. Nếu họ đi đăng ký kết hôn thì thời kỳ hôn nhân hợp pháp chỉ được tính kể từ ngày họ đăng ký.
Hiện nay, quan hệ hôn nhân của nam nữ chỉ được pháp luật công nhận khi đáp ứng điều kiện về đăng ký kết hôn và bắt buộc phải thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền tuân theo quy định của Luật HN&GĐ 2014 về:
– Điều kiện đăng ký kết hôn: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; do nam nữ tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực hành vi dân sự; không thuộc trường hợp bị cấm kết hôn… theo Điều 8 Luật HN&GĐ.
– Thủ tục đăng ký kết hôn: Hai bên nam nữ muốn đăng ký kết hôn thì phải đáp ứng điều kiện nêu trên, chuẩn bị đầy đủ giấy tờ và đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện.
3. Xác định quan hệ hôn nhân trong trường hợp nhiều vợ nhiều chồng
3.1. Trường hợp kết hôn trước khi Luật hôn nhân gia đình năm 1959 có hiệu lực (trước ngày 13/01/1960)
Những trường hợp kết hôn từ ngày 13/01/1960 mà vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng thì được coi là không hợp pháp. Như vậy, những quan hệ hôn nhân được xác lập trước khi Luật Hôn nhân và gia định năm 1959 có hiệu lực, dù có nhiều vợ, nhiều chồng thì vẫn không vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng và được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh nên chỉ có hiệu lực đối với miền Bắc. Ngoài ra, do tồn tại lịch sử, các quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng trước ngày 13/01/1959 vẫn được công nhận là hợp pháp.
Đối với miền Nam, theo Nghị quyết 76/CP năm 1977 thì Luật hôn nhân gia đình năm 1959 được áp dụng từ ngày 25/3/1977. Tương tự miền Bắc, những quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng được xác lập trước ngày 25/3/1977 vẫn được công nhận hợp pháp.
3.2. Trường hợp bộ đội, cán bộ có vợ, có chồng ở miền Nam tập kết ra miền Bắc, lấy vợ, chồng khác
Trong giai đoạn này, mặc dù Luật khẳng định chế độ một vợ một chồng nhưng do hoàn cảnh lịch sử, vẫn thừa nhận những trường hợp cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc năm 1954, đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ, lấy chồng ở miền Bắc.
Theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao thì nay nếu người vợ hoặc người chồng ở miền Nam vẫn không có quan hệ hôn nhân mới và muốn duy trì quan hệ hôn nhân trước đây thì công nhận cả hôn nhân mới và hôn nhân trước đây.
Trên đây là nội dung pháp lý liên quan đến việc xác định quan hệ hôn nhân qua các mốc thời gian. Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến vấn đề hôn nhân và gia đình. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây.
Block "ket-bai-viet" not found



