Đình chỉ vụ án hình sự là gì?
Đình chỉ vụ án hình sự là việc cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt hoàn toàn việc giải quyết vụ án hình sự khi thuộc một trong các trường hợp do pháp luật quy định.
Thẩm quyền quyết định đình chỉ vụ án
Căn cứ Điều Điều 248 và Điều 2 BLTTHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
Tùy theo giai đoạn tố tụng, thẩm quyền đình chỉ vụ án thuộc về:
+/ Viện kiểm sát: ra quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố;
+/ Tòa án: quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử.
Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án theo quy định pháp luật
– Giai đoạn điều tra
Theo Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:
(1) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025);
Cụ thể, các căn cứ theo các quy định trên bao gồm:
– Người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự
– Các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự bao gồm:
+/ Không có sự việc phạm tội;
+/ Hành vi không cấu thành tội phạm;
+/ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
+/ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ có hiệu lực pháp luật;
+/ Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
+/ Tội phạm đã được đại xá;
+/ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
+/ Tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
– Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).
– Các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29, khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).
(2) Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
– Giai đoạn truy tố
– Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
– Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do và căn cứ đình chỉ vụ án, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), các vấn đề khác có liên quan và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ không liên quan đến tất cả các bị can thì quyết định đình chỉ vụ án đối với từng bị can.
– Giai đoạn xét xử
Theo khoản 1 Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
(1) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 hoặc các khoản 3, 4, 5, 6, 7 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Cụ thể, các căn cứ theo các quy định trên bao gồm:
– Người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
– Các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự như sau:
+/ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
+/ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ có hiệu lực pháp luật;
+/ Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
+/ Tội phạm đã được đại xá;
+/ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
(2) Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để đình chỉ không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
Như vậy, đình chỉ vụ án là giải pháp tố tụng được pháp luật đặt ra nhằm kết thúc việc xử lý hình sự khi mục tiêu của tố tụng không còn phù hợp hoặc không còn căn cứ pháp lý để tiếp tục. Việc áp dụng đúng các căn cứ đình chỉ giúp bảo đảm cho quá trình tố tụng hình sự vận hành theo đúng bản chất của một nền tư pháp công bằng: chỉ xử lý hình sự khi thật sự cần thiết và đúng đối tượng.
Quy định của pháp luật về đình chỉ vụ án không chỉ có ý nghĩa bảo vệ quyền con người mà còn góp phần nâng cao chất lượng, tính chuẩn mực và tính trách nhiệm trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đây là một trong những cơ chế quan trọng bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và yêu cầu thượng tôn pháp luật trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực hình sự, Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.
- VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
- Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
- Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879 – Zalo: Luật Duy Hưng - Email: luatduyhung@gmail.com
- Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
- Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"










