CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

luбє­t duy hЖ°ng

Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là vợ chồng đồng thuận hoặc một bên yêu cầu chia tài sản chung khi quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại. Theo quy định pháp luật, vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung vì nhiều lý do, như kinh doanh riêng, tránh rủi ro về tài chính hoặc đảm bảo quyền lợi của mỗi bên. Việc phân chia có thể được thực hiện theo sự đồng thuận hoặc theo phán quyết của tòa án, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cả hai bên và con cái nếu có.

Theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ những trường hợp mà việc chia tài sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; hoặc việc chia tài sản nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

– Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

– Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

– Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

– Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;

– Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

– Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Theo đó, nếu hai vợ chồng muốn chia tài sản chung mà việc chia tài sản không ảnh hưởng đến lợi ích của gia đình, không nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thì hoàn toàn có thể thỏa thuận về việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

Về hình thức việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Điều 38 Luật hôn nhân gia đình như sau:

  1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Như vậy, thỏa thuận về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân này phải được lập thành văn bản. Văn bản thỏa thuận phải có công chứng theo quy định của pháp luật như đối với động sản phải đăng ký quyền sở hữu, bất động sản, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Còn đối với các loại tài sản khác thì không bắt buộc công chứng mà do thỏa thuận giữa hai vợ chồng bạn hoặc do yêu cầu của một bên muốn công chứng văn bản phân chia tài sản chung này.

Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

  • Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.
  • Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.
  • Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

  1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
  2. Thỏa thuận của vợ chồng không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

– Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung.

– Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

– Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

– Trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận.

Về nguyên tắc, chế độ hôn nhân vẫn tồn tại, thì tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung. Tuy nhiên, trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau mà vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung. Nếu không vì mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ hay làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích của thành viên trong gia đình, thì pháp luật công nhận sự thỏa thuận phân chia tài sản này của vợ chồng.

Luật sư tư vấn ly hôn


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến nội dung này. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website: http://luatduyhung.com.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879