XÂY DỰNG THANG BẢNG LƯƠNG THEO MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG: TỪ 01/7/2024

luбє­t duy hЖ°ng

Ngày 30/6/2024, Chính phủ đã chính thức công bố Nghị định 74/2024/NĐ-CP mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Xây dựng thang bảng lương theo mức lương tối thiểu vùng mới mà người dân cần biết kể từ ngày 01/7/2024 là gì? Hãy cùng Luật Duy Hưng tìm hiểu vấn đề này qua bài viết dưới đây.

Thang bảng lương là gì?

Thang lương là một hệ thống xây dựng từ ngạch lương, bậc lương, nhóm lương được quy định sẵn làm căn cứ để công ty trả lương và xét nâng lương định kỳ cho người lao động. Dựa vào thang lương, người quản lý sẽ dễ dàng phân loại từng nhóm và năng lực lao động trong doanh nghiệp của mình. Như vậy sẽ thể hiện được tính công bằng và minh bạch trong thanh toán lương.

Bảng lương là bảng tổng hợp số tiền thực tế mà công ty phải trả cho người lao động gồm các khoản như: tiền lương cơ bản, thưởng, phụ cấp lương và các khoản tiền trợ cấp khác trong một khoảng thời gian xác định.

Hiện nay, “Thang bảng lương” được hiểu là một thuật ngữ lao động nhưng không có quy định trong bất kỳ văn bản nào. Thang bảng lương căn cứ theo trình độ mức độ làm việc của người lao động để tạo sự minh bạch khi trả lương. Từ đó, người lao động sẽ tăng năng suất công việc lên và mức lương cao hơn. Thông qua thang bảng lương giúp các doanh nghiệp quản lý tiền lương một cách hiệu quả và chặt chẽ.

Cần đảm bảo nguyên tắc nào khi xây dựng thang bảng lương công ty?

Cụ thể theo Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 có nêu:

XÂY DỰNG THANG BẢNG LƯƠNG “Xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động

1. Người sử dụng lao động phải xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động làm cơ sở để tuyển dụng, sử dụng lao động, thỏa thuận mức lương theo công việc hoặc chức danh ghi trong hợp đồng lao động và trả lương cho người lao động.

2. Mức lao động phải là mức trung bình bảo đảm số đông người lao động thực hiện được mà không phải kéo dài thời giờ làm việc bình thường và phải được áp dụng thử trước khi ban hành chính thức.

3. Người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động.

Thang lương, bảng lương và mức lao động phải được công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện.”

Theo đó, khi xây dựng thang bảng lương cần đảm bảo 03 nguyên tắc sau đây:

– Thứ nhất, công ty phải xây dựng thang bảng lương và định mức lao động làm cơ sở để tuyển dụng, sử dụng lao động, thỏa thuận mức lương theo công việc hoặc chức danh ghi trong hợp đồng lao động và trả lương cho người lao động.

– Thứ hai, mức lao động phải là mức trung bình bảo đảm số đông người lao động thực hiện được mà không phải kéo dài thời giờ làm việc bình thường và phải được áp dụng thử trước khi ban hành chính thức.

– Thứ ba, công ty phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xây dựng thang bảng lương và định mức lao động.

Thang bảng lương và mức lao động phải được công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện.

Mức lương tối thiểu vùng khi xây dựng thang bảng lương được quy định thế nào?

Thang bảng lương là cơ sở để công ty thỏa thuận mức lương theo công việc hoặc chức danh ghi trong hợp đồng lao động với người lao động.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 thì mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội.

Mức lương tối thiểu được xác lập theo vùng, ấn định theo tháng, giờ.

Ngoài ra, mức lương tối thiểu được điều chỉnh dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; tương quan giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường; chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế; quan hệ cung, cầu lao động; việc làm và thất nghiệp; năng suất lao động; khả năng chi trả của công ty.

Như vậy, khi xây dựng thang bảng lương, công ty phải căn cứ vào mức lương tối thiểu vùng để thực hiện đúng quy định về nguyên tắc trả lương.

Từ 01/7/2024 xây dựng thang bảng lương theo mức lương tối thiểu vùng mới 

Theo Nghị định 74/2024/NĐ-CP thì mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ đối với người lao động làm việc cho người sử dụng lao động theo vùng áp dụng từ ngày 01/7/2024 như sau:

Vùng Mức lương tối thiểu tháng (Đơn vị: đồng/tháng) Mức lương tối thiểu giờ (Đơn vị: đồng/giờ)
Vùng I 4.960.000 23.800
Vùng II 4.410.000 21.200
Vùng III 3.860.000 18.600
Vùng IV 3.450.000 16.600

Theo quy định nêu trên và quy định tại mục 1 thì người sử dụng lao động khi xây dựng thang bảng lương từ ngày 01/7/2024 theo mức lương tối thiểu vùng mới phải lưu ý một số nội dung như sau:

(1) Bậc 1 trong thang bảng lương theo tháng từ ngày 01/7/2024 phải bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng theo tháng tại Nghị định 74/2024/NĐ-CP (Vùng I: 4.960.000 đồng/tháng; Vùng II: 4.410.000 đồng/tháng; Vùng III: 3.860.000 đồng/tháng và Vùng IV: 3.450.000 đồng/tháng), trường hợp thang bảng lương đang áp dụng mà thấp hơn mức lương tối thiểu vùng mới thì người sử dụng lao động phải thực hiện việc điều chỉnh lại.

(2) Khi nào duy trì trả lương cho người lao động có trình độ thêm 7% so với mức lương tối thiểu vùng?

* Nghị định 90/2019/NĐ-CP

Trước đó, tại Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động (hết hiệu lực từ ngày 01/7/2022) có quy định về việc áp dụng mức lương cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề.

* Nghị định 38/2022/NĐ-CP

Đến Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động (hết hiệu lực từ ngày 01/7/2024) không còn quy định về việc áp dụng mức lương cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề.

Tuy nhiên, tại phần hiệu lực thi hành của Nghị định 38/2022/NĐ-CP có quy định:

“Người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức rà soát lại các thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và các quy chế, quy định của người sử dụng lao động để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp; không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. Đối với các nội dung đã thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động hoặc các thỏa thuận hợp pháp khác có lợi hơn cho người lao động so với quy định tại Nghị định này thì tiếp tục được thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

* Nghị định 74/2024/NĐ-CP 

Tại phần hiệu lực thi hành của Nghị định 74/2024/NĐ-CP (áp dụng từ ngày 01/7/2024) quy định:

“Khi thực hiện mức lương tối thiểu quy định tại Nghị định này, người sử dụng lao động có trách nhiệm rà soát lại các chế độ trả lương trong hợp đồng lao động đã thỏa thuận với người lao động, thỏa ước lao động tập thể và các quy chế, quy định của người sử dụng lao động để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. 

Đối với các nội dung trả lương đã thỏa thuận, cam kết mà có lợi hơn cho người lao động (như chế độ trả lương cho người lao động làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi qua học tập, đào tạo nghề cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu và chế độ trả lương cho người lao động làm công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường) thì tiếp tục được thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Người sử dụng lao động không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động.”

Từ những quy định trên thì có thể chia thành 02 trường hợp về việc trả lương cho người lao động có trình độ thêm 7% so với mức lương tối thiểu vùng từ ngày 01/7/2024 như sau:

– Trường hợp thứ nhất: Trường hợp người lao động ký hợp đồng lao động trước ngày 01/7/2024 mà có thỏa thuận về nội dung trả lương cho người lao động có trình độ thêm 7% so với mức lương tối thiểu vùng thì tiếp tục thực hiện, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

– Trường hợp thứ hai: Trường hợp người lao động ký hợp đồng lao động từ ngày 01/7/2024 thì không bắt buộc phải thỏa thuận về việc trả lương cho người lao động có trình độ thêm 7% so với mức lương tối thiểu vùng nhưng phải đảm bảo mức lương không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định 74/2024/NĐ-CP.

(3) Người sử dụng lao động có trách nhiệm rà soát lại các chế độ trả lương trong hợp đồng lao động đã thỏa thuận với người lao động theo mức lương tối thiểu vùng mới:

Theo khoản 3 Điều 5 Nghị định 74/2024/NĐ-CP thì khi thực hiện mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 01/7/2024, người sử dụng lao động có trách nhiệm rà soát lại các chế độ trả lương trong hợp đồng lao động đã thỏa thuận với người lao động, thỏa ước lao động tập thể và các quy chế, quy định của người sử dụng lao động để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. 


Trên đây là một số nội dung cơ bản về về vấn đề Quy định cần biết khi xây dựng thang bảng lương theo mức lương tối thiểu vùng mới từ ngày 01/07/2024. Quý khách cần tìm hiểu thêm các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực LAO ĐỘNG đề nghị tham khảo Tại đây

Block "ket-bai-viet" not found

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879