THỦ TỤC HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

luбє­t duy hЖ°ng

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai là quá trình giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất giữa các bên thông qua sự can thiệp của một tổ chức hoặc cá nhân trung gian, nhằm đạt được sự đồng thuận và hòa bình mà không cần đưa vụ việc ra tòa án. Hòa giải tranh chấp đất đai thường là bước đầu tiên trước khi tiến hành thủ tục tố tụng tại tòa án.

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai

Theo Từ điển tiếng Việt, “hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ổn thoả”. Hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013 như sau:

“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2.Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.”

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đaiTheo đó, việc hòa giải ngoài tố tụng được thực hiện thông qua:

– Tự hòa giải;

– Hòa giải ở cơ sở;

– Hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Tự hòa giải là việc các bên tranh chấp, với sự giúp đỡ của bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian, tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội. Bên thứ ba trong hòa giải có thể là bất kỳ ai, quá trình tự hòa giải không có sự can thiệp của bất kỳ cơ quan nhà nước, không phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định.

Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở. Cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố). Bên thứ ba trong hòa giải ở cơ sở là hòa giải viên được công nhận theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở để thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Việc tự hòa giải và hòa giải ở cơ sở không phải thủ tục bắt buộc, được Nhà nước khuyến khích để giải quyết tranh chấp đất đai.

Hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật đất đai và Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai. Việc hòa giải tranh chấp đất đai do Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện không phải là việc giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan có thẩm quyền. Trường hơp này, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn chỉ đóng vai trò trung gian hòa giải, giúp đỡ hướng dẫn các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, xử lý giải quyết ổn thỏa tranh chấp, nhằm hạn chế những phát sinh khác không đáng có, bên cạnh đó thông qua hòa giải còn nhằm mục đích tuyên truyền, giải thích pháp luật để người dân hiểu được bản chất của vấn đề mà tự nguyện chấp hành.

Khác với hai phương thức trên, theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, phương thức hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là thủ tục bắt buộc đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất ; đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai.

Như vậy, theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là thủ tục bắt buộc đối với tất cả tranh chấp đất đai. Tuy nhiên với các quy định của Luật đất đai 2013 như sau:

Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh tùy từng trường hợp.

Các quy định trên đều dẫn đến cách hiểu là tranh chấp đất đai phải thông qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nếu hòa giải không thành thì mới thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan khác. Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ra đời đã phần nào giúp tháo gỡ vướng mắc liên quan đến cách hiểu điều luật trên. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cần sửa đổi một số câu từ trong luật để tạo ra sự thống nhất, chặt chẽ giữa luật và nghị quyết của Hội đồng thẩm phán.

Thẩm quyền hòa giải

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Việc giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trách nhiệm phối hợp với Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác góp phần bảo đảo tính công khai, minh bạch, khách quan trong quá trình tiến hành hòa giải, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của các chủ thể tranh chấp.

Phạm vi hòa giải

Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật đất đai, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Đây là định nghĩa khá chung chung do đó dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về tranh chấp đất đai, hiện nay đa số quan điểm cho rằng khái niệm tranh chấp đất đai được hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao hàm tất cả các tranh chấp phát sinh trong quan hệ đất đai như tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính… Theo đó, phạm vi hòa giải tranh chấp đai là hòa giải các tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất, tranh chấp về mục đích sử dụng đất. Pháp luật hiện hành chỉ quy định các tranh chấp không được hòa giải ở cơ sở và không được hòa giải trong tố tụng mà không hạn chế tranh chấp được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã do đó có thể hiểu tất cả các tranh chấp đất đai đều có thể được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thủ tục hòa giải

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP như sau:

– Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

– Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;

– Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

– Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.

– Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung: Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải; thành phần tham dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.

Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

  • Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.
  • Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy định tại Khoản 5 Điều 202 của Luật Đất đai.

Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

– Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Pháp luật đất đai hiện hành quy định khá chặt chẽ về trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai, tạo điều kiện cho quá trình hòa giải diễn ra hiệu quả, đúng luật. Tuy nhiên bên cạnh đó quy định này vẫn tại một số điểm gây ra khó khăn trong thực tiễn, cụ thể:

Thứ nhất: đối với thành phần bắt buộc là “đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó”. Trên thực tế, việc xác định được người sinh sống lâu đời và biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất là không dễ dàng, nhất là đối với các khu vực đô thị hóa nhanh, việc thay đổi nhân khẩu thường xuyên. Bên cạnh đó, đối với khu vực nông thôn, đất khu dân cư lâu năm thì có thể  xác định được người sinh sống lâu đời và biết rõ về nguồn gốc thửa đất có tranh chấp, nhưng việc mời đối tượng này tham gia Hội đồng giải quyết tranh chấp về đất đai vấp phải tâm lý ngại va chạm, sợ mất lòng hàng xóm láng giềng,.. trong khi đó những người này đều không phải là người công vụ và không có chế tài xử lý đối nếu họ không tham gia Hội đồng hòa giải. Việc quy định những người này là thành phần bắt buộc của Hội đồng hòa giải gây không ít khó khăn cho cơ quan tiến hành hòa giải dẫn đến thời gian tiến hành hòa giải kéo dài, vi phạm thời hạn hòa giải theo luật định, mặt khác nếu không thể tiến hành hòa giải do không đủ thành phần bắt buộc trong Hội đồng hòa giải thì các bên tranh chấp cũng không thể khởi kiện vụ án do không đủ điều kiện thụ lý đơn khởi kiện, điều này gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

Thứ hai: Đối với trường hợp các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành. Như vậy, pháp luật cho phép các bên được thay đổi ý kiến của mình trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, trong khi thời hạn hòa giải tranh chấp đất đai là không quá 45 ngày, vậy câu hỏi đặt ra là:

  • Thời hạn 10 ngày để các bên có ý kiến về kết quả hòa giải có được tính vào thời hạn 45 ngày hòa giải tranh chấp đất đai hay không? Bởi khoản 3 Điều 202 Luật đất đai 2013 quy định “Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai”. Quy định như vậy có thể hiểu tất cả các thủ tục hòa giải phải hoàn tất trong thời hạn 45 ngày, kể cả thời gian hòa giải lần hai khi có yêu cầu của một trong các bên tranh chấp. Tuy nhiên, với trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải tương đối chặt chẽ theo luật định thì thời hạn 45 ngày là quá ngắn để tiến hành nhiều lần hòa giải.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức cuộc họp Hội đồng hòa giải lần hai có phải tuân theo trình tự, thời hạn như lần một không? Theo quy định tại Khoản 3 Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải và lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành. Như vậy theo tinh thần tại quy định này thì lần hòa giải thứ hai chỉ cần tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải mà không phải thực hiện các bước như lần hòa giải thứ nhất. Nhưng khi một bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải đồng nghĩa với việc hoặc do ý chí chủ quan của họ hoặc do có sự thay đổi thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án, trường hợp này cần thiết tiến hành lại việc thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan đến tranh chấp.
  • Được phép tiến hành hòa giải lại mấy lần? Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể điều kiện, số lần được tiến hành hòa giải lại mà chỉ quy định rất chung chung là nếu sau khi lập biên bản hòa giải thành, các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải. Mặt khác, pháp luật lại quy định trong trường hợp hòa giải không thành thì Ủy ban nhân dân cấp xã mới hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo. Do đó quy định như trên có thể dẫn đến trường hợp một bên cố tình kéo dài thời gian tranh chấp vì mục đích cá nhân khiến Ủy ban nhân dân cấp xã phải tiến hành hòa giải nhiều lần.

TÌM LUẬT SƯ GIẢI QUYẾT VƯỚNG MẮC VỀ ĐẤT ĐAI


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website: http://luatduyhung.com hoặc gọi đến liên hệ trực tiếp để được tư vấn Miễn phí.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879