Khi giao kết hợp đồng, điều quan trọng mà các bên mong muốn là hợp đồng luôn có hiệu lực, và có thể thực thi nhưng vì nhiều lý do mà đôi khi hợp đồng có thể bị vô hiệu. Bài viết dưới đây Luật Duy Hưng sẽ làm rõ về Hợp đồng, giao dịch của doanh nghiệp vô hiệu trong trường hợp nào để doanh nghiệp có cái nhìn bao quát nhất khi giao kết hợp đồng.
Hợp đồng, giao dịch của doanh nghiệp vô hiệu là gì?
Căn cứ Điều 131 BLDS 2015 quy định, Hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập.
Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Hợp đồng, giao dịch của doanh nghiệp vô hiệu trong trường hợp nào?
Hợp đồng, giao dịch chỉ bị vô hiệu khi vi phạm vào một hoặc một số trong 04 trường hợp sau:
Thứ nhất, chủ thể tham gia giao dịch không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.
Hợp đồng, giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau:
– Người đại diện đã công nhận giao dịch;
– Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời gian hợp lý;
– Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch với mình không có quyền đại diện.
Được coi là người đại diện đã công nhận giao dịch hoặc đã biết mà không phản đối trong một thời gian hợp lý thể hiện qua bằng chứng sau:
– Sau khi hợp đồng đã được ký kết, có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người ký kết hợp đồng đã báo cáo với người có thẩm quyền biết hợp đồng đã được ký kết. Việc báo cáo đó thể hiện trong biên bản hợp giao ban của Ban Giám đốc, Biên bản cuộc họp của HĐTV hay HĐQT hay có nhiều người khai thống nhất về việc báo cáo là có thật).
– Người có thẩm quyền thông qua các chứng từ, tài liệu về kế toán, thống kê biết được hợp đồng đó đã được ký kết và đang được thực hiện (đã ký trên hoá đơn, phiếu xuất kho, các khoản thu, chi của việc thực hiện hợp đồng hoặc trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp).
– Người có thẩm quyền có những hành vi chứng minh có tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh theo thoả thuận hợp đồng (ký các văn bản xin gia hạn thời gian thanh toán, cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, ký các văn bản duyệt thu, chi hay quyết toán đối chiếu công nợ liên quan đến việc thực hiện hợp đồng,…)
– Người có thẩm quyền đã trực tiếp sử dụng các tài sản, lợi nhuận có được do việc ký kết, thực hiện hợp đồng đó mà có; sử dụng trụ sở làm việc do việc ký kết, thực hiện hợp đồng thuê tài sản,…)
Thứ hai, mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Thứ ba, người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự nguyện;
Thứ tư, giao dịch không đáp ứng được về hình thức, trong trường hợp pháp luật có quy định hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch.
Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau:
– Giao dịch đã được xác lập bằng văn bản không đúng quy định của luật nhưng một bên hoặc các bên thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch;
– Giao dịch đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch.
Hợp đồng, giao dịch của doanh nghiệp vô hiệu một phần hay toàn phần trong trường hợp nào?
Hợp đồng có thể bị vô hiệu từng phần hoặc bị vô hiệu toàn bộ.
Vô hiệu một phần trong trường hợp khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch.
Ví dụ vô hiệu một phần:
Giao dịch vô hiệu một phần trong trường hợp lãi suất cho vay vượt quá mức 20%/năm theo quy định của BLDS 2015 hoặc mức phạt vi phạm hợp đồng vượt quá mức 8% phần giá trị bị vi phạm theo quy định của Luật Thương mại 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2019). Khi đó, chỉ phần nội dung về lãi phạt quá vi phạm mức pháp luật quy định thì mới vị vô hiệu.
Ví dụ vô hiệu toàn bộ:
Trường hợp chủ thể ký hợp đồng không đúng thẩm quyền hoặc giao dịch mua bán hàng hoá bị cấm giao dịch thì sẽ bị vô hiệu toàn phần.
Trong trường hợp hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu theo quyết định của Toà án và xử lý theo quy định pháp luật khi được ký kết không đúng thẩm quyền thông qua thì người ký kết hợp đồng, giao dịch và những người có liên quan phải bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó.
Lưu ý: Việc vô hiệu hợp đồng chỉ xảy ra khi một hoặc tất cả các bên đều có yêu cầu khi xảy ra tranh chấp và theo phán quyết của Toà án hoặc Trọng tài. Nếu không có yêu cầu và phán quyết tuyên vô hiệu thì hợp đồng vẫn có hiệu lực pháp lý đối với các bên.
Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.- VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
- Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
- Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879 – Zalo: Luật Duy Hưng - Email: luatduyhung@gmail.com
- Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
- Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"









