Cha mẹ đứng tên đất khi qua đời thì con được thừa kế thế nào? Hãy cùng Luật Duy Hưng phân tích qua bài viết dưới đây:
Khi cha hoặc mẹ – người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ/sổ hồng) – qua đời mà chưa để lại di chúc hoặc đã để lại di chúc, quyền sử dụng đất đó trở thành di sản thừa kế. Đây là tài sản do người chết để lại, được chuyển giao cho những người thừa kế theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Việc đất “chưa sang tên” không có nghĩa là con không có quyền – quyền thừa kế phát sinh ngay từ thời điểm cha/mẹ qua đời (thời điểm mở thừa kế), bất kể sổ đỏ đã được cập nhật tên người thừa kế hay chưa. Tuy nhiên, để có thể sử dụng, chuyển nhượng, thế chấp hợp pháp thửa đất, các con vẫn cần thực hiện thủ tục khai nhận/phân chia di sản và đăng ký biến động đất đai.
Căn cứ pháp lý:
Bộ luật Dân sự 2015
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Luật Đất đai 2024
Luật Công chứng 2014
Nghị định 10/2022/NĐ-CP (lệ phí trước bạ)
Nghị định 101/2024/NĐ-CP (đăng ký đất đai, cấp GCN)
Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP
Án lệ 05/2016/AL, 06/2016/AL
Cha mẹ đứng tên đất khi qua đời thì con được thừa kế thế nào?
Thừa kế theo di chúc
Nếu cha mẹ đứng tên đất, trước khi chết để lại di chúc hợp pháp, đất được chia theo đúng nội dung di chúc. Tuy nhiên, pháp luật vẫn bảo vệ một số đối tượng đặc biệt: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con thành niên mà không có khả năng lao động vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 – trừ khi họ từ chối nhận hoặc thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản.
Thừa kế theo pháp luật (không có di chúc, di chúc không hợp pháp, hoặc di chúc chỉ định đoạt một phần di sản)
Đây là tình huống phổ biến nhất. Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Như vậy, con đẻ và con nuôi hợp pháp luôn thuộc hàng thừa kế thứ nhất, cùng hàng với vợ/chồng và cha mẹ của người đã mất (nếu còn sống). Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau theo khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Điều này có nghĩa: nếu cha mất, để lại vợ, hai con và mẹ già (ông bà nội của các con) còn sống, thì di sản của cha sẽ được chia đều cho 4 người: vợ, mẹ (bà nội), con thứ nhất, con thứ hai – không phải chỉ chia cho các con.
Trường hợp con riêng, con ngoài giá thú, con nuôi
Con riêng, con ngoài giá thú (nếu có quan hệ cha/mẹ – con hợp pháp về mặt pháp lý, ví dụ đã được xác nhận cha/mẹ theo Luật Hôn nhân và Gia đình) và con nuôi hợp pháp đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất, có quyền và nghĩa vụ ngang với con đẻ trong quan hệ thừa kế.
Cách xác định phần di sản là đất khi cha/mẹ mất
Đây là bước dễ nhầm lẫn nhất trong thực tế. Cần phân biệt:
Trường hợp một trong hai người (cha hoặc mẹ) qua đời, người còn lại vẫn sống: Nếu thửa đất là tài sản chung của vợ chồng (hình thành trong thời kỳ hôn nhân), di sản thừa kế chỉ là 1/2 giá trị quyền sử dụng đất – phần còn lại vẫn thuộc quyền sở hữu của người còn sống, không phải là di sản.
Trường hợp cả cha và mẹ đều đã qua đời: Toàn bộ quyền sử dụng đất trở thành di sản thừa kế, chia cho các đồng thừa kế còn lại (thường là các con, và những người ở hàng thừa kế thứ nhất khác nếu có).
Trường hợp đất là tài sản riêng của cha hoặc mẹ (được tặng cho riêng, thừa kế riêng, hoặc có văn bản thỏa thuận là tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân): Toàn bộ là di sản của người đó, không phụ thuộc vào việc người còn lại còn sống hay không.
Thủ tục để con nhận thừa kế, sang tên đất
Bước 1 – Xác định di sản, người thừa kế và tỷ lệ hưởng như mục 3, 4 nêu trên.
Bước 2 – Khai nhận di sản thừa kế hoặc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại tổ chức hành nghề công chứng nơi có bất động sản, theo quy định của Luật Công chứng 2014. Nếu chỉ có một người thừa kế duy nhất thì lập văn bản khai nhận di sản; nếu có nhiều người thừa kế thì lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản (các đồng thừa kế có thể thỏa thuận để một người đứng tên toàn bộ, hoặc chia theo tỷ lệ đã thống nhất).
Bước 3 – Niêm yết công khai việc thụ lý văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản tại UBND cấp xã nơi có đất trong thời hạn luật định trước khi công chứng viên chứng nhận.
Bước 4 – Đăng ký biến động đất đai tại Văn phòng đăng ký đất đai để cập nhật tên người thừa kế trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bước 5 – Trường hợp có tranh chấp giữa các đồng thừa kế (không thống nhất được cách chia, có người vắng mặt, có người tranh chấp quyền thừa kế): phải khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hồ sơ cần chuẩn bị
Giấy chứng tử của cha/mẹ (người để lại di sản).
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ/sổ hồng) bản gốc.
Giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế: giấy khai sinh của các con, giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ (nếu có), giấy tờ chứng minh quan hệ với các đồng thừa kế khác (nếu có).
Di chúc (nếu có).
Giấy tờ tùy thân, xác nhận tình trạng hôn nhân của các đồng thừa kế.
Văn bản từ chối nhận di sản (nếu có người từ chối).
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản/khai nhận di sản (soạn tại phòng/văn phòng công chứng).
Thời hiệu thừa kế yêu cầu chia đất là bao lâu?
Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.
Điều này đặt ra rủi ro thực tế: nếu quá 30 năm kể từ ngày cha/mẹ mất mà các con không yêu cầu chia di sản, và có một người thừa kế đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất, thì đất có thể thuộc về người đang quản lý mà không cần chia lại cho các đồng thừa kế khác. Trường hợp không có ai quản lý, di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự, hoặc thuộc về Nhà nước nếu không có người chiếm hữu.
Vì vậy, các gia đình có đất chưa phân chia nên chủ động thực hiện thủ tục khai nhận di sản càng sớm càng tốt, không nên chờ đến khi phát sinh tranh chấp hoặc gần hết thời hiệu.
Chi phí, lệ phí, thuế
Phí công chứng văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản: tính theo giá trị tài sản, theo biểu phí công chứng hiện hành – nên liên hệ trực tiếp tổ chức công chứng để được báo phí chính xác theo từng địa phương.
Lệ phí trước bạ: trường hợp nhận thừa kế nhà, đất giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ và một số quan hệ thân nhân khác theo quy định tại Nghị định 10/2022/NĐ-CP thường thuộc diện được miễn lệ phí trước bạ; cần đối chiếu hồ sơ cụ thể với cơ quan thuế địa phương tại thời điểm thực hiện.
Thuế thu nhập cá nhân: thu nhập từ thừa kế bất động sản giữa cha mẹ đẻ với con đẻ thuộc diện được miễn thuế TNCN theo pháp luật thuế hiện hành.
Lệ phí đăng ký biến động, cấp lại Giấy chứng nhận: theo biểu phí do HĐND cấp tỉnh quy định, có sự khác nhau giữa các địa phương.
Rủi ro pháp lý cần lưu ý
Nếu để quá lâu không làm thủ tục, một trong các đồng thừa kế có thể xác lập quyền quản lý thực tế, dẫn đến khó khăn khi các đồng thừa kế khác yêu cầu chia lại, đặc biệt khi gần hoặc vượt quá thời hiệu 30 năm.
Tranh chấp giữa các đồng thừa kế (anh chị em) về tỷ lệ chia, về việc ai là người trực tiếp chăm sóc cha mẹ lúc còn sống, có thể kéo dài và tốn kém chi phí tố tụng.
Nếu đất chưa được cấp Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ pháp lý chưa đầy đủ, quá trình khai nhận di sản, đăng ký biến động có thể phức tạp hơn, cần thêm bước xác nhận nguồn gốc đất.
Từ thực tiễn tư vấn, Luật Duy Hưng nhận thấy phần lớn tranh chấp thừa kế đất đai giữa anh chị em trong gia đình không xuất phát từ việc thiếu quy định pháp luật, mà từ việc gia đình chậm trễ thực hiện thủ tục khi còn trong giai đoạn hòa thuận. Chúng tôi khuyến nghị các gia đình nên chủ động thực hiện khai nhận di sản thừa kế trong vòng vài năm sau khi cha/mẹ qua đời, thay vì để tồn đọng qua nhiều thế hệ – khi đó số lượng đồng thừa kế tăng lên theo cấp số nhân (nếu một người thừa kế qua đời, phần của họ lại tiếp tục được chia cho các con của họ), khiến việc xử lý ngày càng phức tạp và tốn kém.
Trường hợp gia đình có nhiều người thừa kế, có người ở xa, người đã mất tích, hoặc có bất đồng, nên tham khảo ý kiến luật sư trước khi làm việc trực tiếp với công chứng viên để tránh văn bản bị từ chối công chứng do thiếu người tham gia.
Khuyến nghị:
Cha mẹ nên lập di chúc hợp pháp khi còn minh mẫn, rõ ràng để tránh tranh chấp về sau.
Khi cha/mẹ qua đời, nên chủ động rà soát toàn bộ giấy tờ đất đai và thực hiện thủ tục khai nhận di sản trong thời gian sớm nhất.
Các đồng thừa kế nên trao đổi, thống nhất phương án chia trước khi ra công chứng, hạn chế phát sinh mâu thuẫn tại thời điểm ký văn bản.
Nếu có người thừa kế ở nước ngoài hoặc vắng mặt dài hạn, cần chuẩn bị văn bản ủy quyền hợp lệ (có hợp pháp hóa lãnh sự nếu ở nước ngoài).
Trên đây là bài viết: Cha mẹ đứng tên đất khi qua đời thì con được thừa kế thế nào? Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực dân sự. Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.








