Cha mẹ đều mất, đất đai được chia cho các con như thế nào? Bài viết dưới đây, Luật Duy Hưng sẽ phân tích cụ thể theo từng căn cứ pháp lý để người dân hiểu đúng quyền lợi của mình và biết cách thực hiện thủ tục phân chia đất đai đúng trình tự pháp luật.
Xác định phần di sản thừa kế của cha mẹ để lại
Căn cứ theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.”
Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của cha và mẹ (hình thành trong thời kỳ hôn nhân), khi cha mất trước, di sản của cha để lại xác định là 1/2 giá trị quyền sử dụng đất; phần còn lại vẫn thuộc quyền sở hữu của mẹ. Đến khi mẹ mất, toàn bộ phần của mẹ (bao gồm 1/2 tài sản chung cộng với phần mẹ được hưởng thừa kế từ cha, nếu có) mới tiếp tục trở thành di sản của mẹ để chia cho các con.
Vì vậy, trước tiên cần xác định rõ: đất là tài sản chung vợ chồng, hay tài sản riêng của cha/mẹ, để tính đúng phần di sản thực tế được đem ra chia — đây là bước thường bị bỏ qua khiến việc chia thừa kế bị sai ngay từ đầu.
Cha mẹ đều mất, đất đai được chia cho các con như thế nào?
Trường hợp 1: Có di chúc
Nếu cha mẹ để lại di chúc hợp pháp, phù hợp quy định pháp luật theo Điều 630 BLDS 2015, di sản được chia theo đúng ý nguyện thể hiện trong di chúc.
Tuy nhiên, dù di chúc định đoạt khác, pháp luật vẫn bảo vệ một số người thừa kế được hưởng tối thiểu 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật, dù không được cha mẹ cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn trong di chúc, bao gồm: con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. (theo Điều 644 BLDS 2015)
Đây là quy định các con cần lưu ý nếu di chúc phân chia không đồng đều hoặc loại trừ một người con nào đó.
Trường hợp 2: Không có di chúc – chia theo pháp luật
Căn cứ Điều 650 BLDS 2015 quy định, trường hợp cha mẹ mất mà không để lại di chúc, hoặc di chúc không hợp pháp, toàn bộ hoặc một phần di sản, di sản không được định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật.
Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 quy định: “a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Như vậy, con đẻ, con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ. Đồng thời, cùng hàng thừa kế với vợ/chồng còn sống (nếu có) và cha, mẹ đẻ, cha, mẹ nuôi của người để lại di sản.
Căn cứ Khoản 2 Điều 651 BLDS 2015, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Pháp luật không phân biệt giới tính (con trai/con gái), tình trạng hôn nhân, nơi cư trú hay việc có sống cùng cha mẹ trước khi mất hay không (theo Điều 610 Bộ luật Dân sự 2015 về quyền bình đẳng về thừa kế).
Lưu ý về con riêng và con nuôi: con nuôi hợp pháp (có quyết định công nhận nuôi con nuôi theo đúng thủ tục) có quyền thừa kế ngang với con đẻ theo Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015. Con riêng và cha dượng, mẹ kế chỉ được thừa kế của nhau nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con theo Điều 654.
Trường hợp một người con đã mất trước cha mẹ — thừa kế thế vị
Căn cứ theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thừa kế thế vị: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”
Như vậy, nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với cha/mẹ, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Đây gọi là thừa kế thế vị — cháu (hoặc chắt) không thừa kế với tư cách riêng mà thế chỗ cha/mẹ mình để nhận đúng phần đáng lẽ cha/mẹ được hưởng, không phải chia lại theo suất riêng.
Thủ tục phân chia đất đai giữa các con khi cha mẹ đều mất như thế nào?
Trường hợp thống nhất và thoả thuận được việc phân chia
Trường hợp 1: Các con thống nhất, lập Văn bản khai nhận di sản thừa kế (nếu là con duy nhất hoặc tất cả cùng đứng tên hưởng chung) tại tổ chức hành nghề công chứng nơi có bất động sản, theo Điều 58 Luật Công chứng 2014. Hồ sơ cần: giấy chứng tử của cha, mẹ; giấy tờ chứng minh quan hệ cha/mẹ – con (giấy khai sinh…); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; di chúc (nếu có).
Trường hợp 2: Nếu các con muốn chia riêng phần của từng người thay vì đứng tên chung, lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, công chứng theo Điều 57 Luật Công chứng 2014. Văn bản này là cơ sở để làm thủ tục tách thửa, sang tên riêng cho từng người.
Sau khi có văn bản công chứng, các con nộp hồ sơ đăng ký biến động đất đai tại Văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất, theo quy định tại Luật Đất đai 2024 và Nghị định 101/2024/NĐ-CP (quy định chi tiết về đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Đây là bước bắt buộc để quyền sử dụng đất của từng người con được pháp luật công nhận và có thể thực hiện các giao dịch tiếp theo (chuyển nhượng, thế chấp…).
Trường hợp các con không thống nhất được việc phân chia
Nếu không thể tự thỏa thuận, bất kỳ người con nào cũng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế, theo thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Cần lưu ý, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, tranh chấp về chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất không bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã trước khi khởi kiện.
Thời hiệu chia thừa kế đất đai khi cha mẹ đều mất là bao lâu?
Căn cứ khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm cha/mẹ qua đời — Điều 611 khoản 1).
Nếu quá thời hạn này mà không ai yêu cầu chia, di sản sẽ thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó (Điều 623 khoản 3). Các con nên chủ động thực hiện thủ tục khai nhận, phân chia sớm để tránh phát sinh rủi ro pháp lý sau này.
Từ kinh nghiệm tư vấn thực tế, Luật Duy Hưng nhận thấy nhiều gia đình chia đất chỉ dựa trên thỏa thuận miệng hoặc “theo truyền thống” (ví dụ ưu tiên con trai, con sống cùng cha mẹ) mà không lập văn bản công chứng đúng quy định. Điều này tiềm ẩn rủi ro rất lớn: khi phát sinh tranh chấp sau này (kể cả nhiều năm sau), phần đất đã “chia miệng” đó vẫn có thể bị coi là chưa chia hợp pháp, dẫn đến tranh chấp giữa chính các con hoặc với thế hệ cháu, chắt.
Chúng tôi khuyến nghị:
– Luôn thực hiện thủ tục khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản bằng văn bản công chứng, kể cả khi anh em rất đồng thuận;
– Rà soát kỹ nguồn gốc đất (tài sản chung vợ chồng hay tài sản riêng) trước khi xác định phần di sản thực tế;
– Với gia đình có người con đã mất, cần xác định rõ có cháu thừa kế thế vị hay không để tránh bỏ sót người có quyền lợi hợp pháp;
– Nên có luật sư tư vấn ngay từ bước lập hồ sơ khai nhận di sản đối với các gia đình có tài sản giá trị lớn hoặc có yếu tố phức tạp (con riêng, con nuôi, di chúc không rõ ràng)
Trên đây là bài viết: Cha mẹ đều mất, đất đai được chia cho các con như thế nào? Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực dân sự. Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.










