ĐIỀU KIỆN HÔN NHÂN THỰC TẾ ĐƯỢC CÔNG NHẬN

luбє­t duy hЖ°ng

Hôn nhân thực tế là việc nam, nữ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Trên thực tế, không phải mọi trường hợp đều được pháp luật công nhận, mà tùy từng giai đoạn pháp luật quy định những điều kiện cụ thể để xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp.

Điều kiện hôn nhân thực tế được công nhận đang là vấn đề được nhiều người quan tâm. Có trường hợp, hôn nhân đã được xác lập từ rất lâu nhưng không đăng ký kết hôn, đến khi ly hôn không biết giải quyết thế nào bởi quan hệ hôn nhân này có được pháp luật công nhận không. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thông tin những trường hợp được pháp luật công nhận hôn nhân thực tế cũng như điều kiện để xác định đó là quan hệ hôn nhân thực tế.

Thế nào là hôn nhân thực tế?

Hôn nhân thực tế là mối quan hệ giữa một nam và một nữ sống chung với nhau như vợ chồng, có đầy đủ các biểu hiện của một gia đình – như cùng nhau tổ chức cuộc sống, có con chung, chia sẻ tài chính và nghĩa vụ với nhau – nhưng lại không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dù thực tế họ đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình (ví dụ: cả hai đều đủ tuổi, không có quan hệ huyết thống, không bị mất năng lực hành vi dân sự, …).

Hiện nay, pháp luật Việt Nam không công nhận mọi trường hợp sống chung như vợ chồng là hôn nhân thực tế. Chỉ một số trường hợp nhất định, đáp ứng các điều kiện cụ thể, mới được pháp luật xem xét công nhận.

ĐIỀU KIỆN HÔN NHÂN THỰC TẾ ĐƯỢC CÔNG NHẬNNhư vậy, hôn nhân thực tế là trường hợp nam nữ chung sống với nhau và thỏa mãn những điều kiện theo quy định của pháp luật nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận hôn nhân hợp pháp, được giải quyết quyền, lợi ích và nghĩa vụ như hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân thực tế là một thuật ngữ pháp lý để chỉ những trường hợp hai bên nam nữ chung sống trong quan hệ vợ chồng, đã được gia đình, xã hội thừa nhận nhưng chưa được đăng ký tại cơ quan hộ tịch, chưa được cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Điều kiện hôn nhân thực tế được công nhận là gì?

Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, hôn nhân thực tế được xác nhận là hợp pháp trong hai trường hợp chính sau đây:

Trường hợp 1: Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987

Đây là những cặp đôi bắt đầu chung sống như vợ chồng trước ngày Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 có hiệu lực (03/01/1987), và chưa đăng ký kết hôn.

– Theo quy định tại mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10, các cặp đôi này được khuyến khích đăng ký kết hôn. Điều này có nghĩa là, ngay cả khi họ không đăng ký kết hôn, quan hệ vợ chồng của họ vẫn được pháp luật công nhận.

– Thời điểm công nhận quan hệ vợ chồng: Quan hệ vợ chồng được công nhận từ thời điểm các bên bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng.

– Điều kiện xác định: Hai bên phải có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật hiện hành và thỏa mãn một trong các trường hợp sau:

+ Có tổ chức lễ cưới.

+ Được gia đình của một bên hoặc cả hai bên chấp thuận.

+ Được cá nhân/tổ chức khác chứng kiến.

+ Thực sự chung sống, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau xây dựng gia đình.

– Giải quyết ly hôn: Nếu một bên hoặc các bên yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết, mặc dù họ không đăng ký kết hôn.

Trường hợp 2: Quan hệ vợ chồng được xác lập từ 03/01/1987 đến trước 01/01/2001

Các cặp đôi xác lập quan hệ vợ chồng trong khoảng thời gian này có nghĩa vụ đăng ký kết hôn nếu đủ điều kiện.

– Nghĩa vụ đăng ký kết hôn: mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 thì các cặp đôi này cần đăng ký kết hôn trong thời hạn từ 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003 để được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

– Thời điểm công nhận: Nếu đăng ký kết hôn trong thời hạn này, hôn nhân thực tế được công nhận từ ngày hai bên bắt đầu chung sống như vợ chồng chứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn.

– Hậu quả khi không đăng ký kết hôn:

+ Trường hợp đăng ký kết hôn sau ngày 01/01/2003, quan hệ vợ chồng chỉ được công nhận từ ngày đăng ký kết hôn. Khoảng thời gian chung sống trước đó không được công nhận là hôn nhân thực tế.

+ Trường hợp không đăng ký kết hôn: Nếu không đăng ký kết hôn sau thời hạn này, pháp luật không công nhận họ là vợ chồng, dù có chung sống như vợ chồng.

Hôn nhân thực tế chấm dứt khi nào?

Đối với vấn đề chấm dứt hôn nhân thực tế thì các quy định pháp luật hôn nhân & gia đình hiện chưa có quy định rõ ràng.

Tuy nhiên có thể dựa theo các quy định pháp luật và Án lệ số 41/2021/AL tại Quyết định 42/QĐ-CA về chấm dứt hôn nhân thực tế, thì hôn nhân thực tế sẽ chấm dứt trong các trường hợp sau:

– Trường hợp 1: Chấm dứt thông qua con đường tư pháp – thực hiện thủ tục ly hôn (Mục 1 Chương IV Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13)

– Trường hợp 2: Chấm dứt do một bên trong quan hệ vợ chồng chết/bị tòa án tuyên bố đã chết ((Mục 2 Chương IV Luật Hôn nhân và Gia đình 2014)

– Trường hợp 3: Chấm dứt do không còn chung sống với nhau và trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực (03/01/1987) và một hoặc hai bên chung sống với nhau như vợ chồng với người khác.

Dựa theo nội dung Án lệ số 41/2021/AL, hai quan hệ hôn nhân trong trường hợp này đều là hôn nhân thực tế, tuy nhiên Tòa án xác định quan hệ hôn nhân thực tế đầu tiên đã chấm dứt.


Trên đây là bài viết về ĐIỀU KIỆN HÔN NHÂN THỰC TẾ ĐƯỢC CÔNG NHẬN . Để tham khảo thêm các vấn đề liên quan đến lĩnh vực Hôn nhân và gia đình, mời bạn xem  Tại đây

Block "ket-bai-viet" not found

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879