Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên thực hiện các hoạt động như mua bán hàng hóa, thuê nhà, lập di chúc hay ký kết hợp đồng lao động mà không để ý rằng đó chính là những giao dịch dân sự (GDDS). Đây là một trong những khái niệm nền tảng và quan trọng nhất của pháp luật dân sự Việt Nam. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ GDDS là gì, đặc điểm, phân loại cũng như các điều kiện để một GDDS có hiệu lực pháp luật.
Giao dịch dân sự là gì?
Theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015, GDDS được hiểu là những thỏa thuận mang tính hợp đồng hoặc hành động pháp lý do một bên thực hiện, mà kết quả của nó là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự của các chủ thể liên quan.
Nói một cách dễ hiểu, GDDS chính là những sự kiện pháp lý xảy ra trong đời sống dân sự, tạo ra hậu quả pháp lý cho các bên tham gia. Bất cứ khi nào một cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi nhằm xác lập, điều chỉnh hay kết thúc một quyền hoặc nghĩa vụ dân sự nào đó, hành vi đó đều có thể được xem là một GDDS.
Đặc điểm của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự mang những đặc điểm cơ bản sau:
– Là sự kiện pháp lý: GDDS không đơn thuần là một hành động thông thường mà là sự kiện có ý nghĩa pháp lý, làm phát sinh hậu quả về quyền và nghĩa vụ cho các bên.
– Thể hiện ý chí của chủ thể: Dù là hợp đồng (nhiều bên thỏa thuận) hay hành vi pháp lý đơn phương (một bên thực hiện), GDDS luôn xuất phát từ ý chí tự nguyện của người tham gia.
– Hướng tới hậu quả pháp lý cụ thể: Mục đích của việc xác lập GDDS luôn là tạo ra, thay đổi hoặc chấm dứt một quyền, nghĩa vụ dân sự xác định.
– Có thể thể hiện dưới nhiều hình thức: Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015, GDDS có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc thông qua hành vi cụ thể của các bên.
Phân loại giao dịch dân sự
Căn cứ vào định nghĩa tại Điều 116, GDDS được chia thành hai nhóm chính:
Hợp đồng
Hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa hai hay nhiều bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Đây là loại GDDS phổ biến nhất trong đời sống, ví dụ:
- Hợp đồng mua bán tài sản (nhà, đất, xe cộ, hàng hóa…)
- Hợp đồng thuê tài sản
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Hợp đồng vay tài sản
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hành vi pháp lý đơn phương
Khác với hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương chỉ thể hiện ý chí của một bên nhưng vẫn làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Một số ví dụ điển hình:
- Lập di chúc
- Hứa thưởng
- Lập giấy ủy quyền
- Từ bỏ quyền sở hữu tài sản
Điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực
Không phải mọi GDDS đều đương nhiên có giá trị pháp lý. Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, để một GDDS được công nhận là có hiệu lực, cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
– Thứ nhất, về chủ thể: Cá nhân, tổ chức tham gia giao dịch phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập. Ví dụ, người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự sẽ bị hạn chế quyền tham gia một số loại giao dịch nhất định.
– Thứ hai, về ý chí: Chủ thể tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện. Những giao dịch được xác lập do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc nhầm lẫn nghiêm trọng có thể bị tuyên vô hiệu.
– Thứ ba, về nội dung và mục đích: Mục đích và nội dung của giao dịch không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
– Thứ tư, về hình thức: Trong một số trường hợp pháp luật có quy định bắt buộc, hình thức của giao dịch (ví dụ phải lập thành văn bản, phải công chứng, chứng thực hoặc đăng ký) sẽ là điều kiện bắt buộc để giao dịch có hiệu lực. Ví dụ điển hình là các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở thường bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực hợp đồng.
Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu
Khi GDDS không đáp ứng một trong các điều kiện nêu tại Điều 117, giao dịch đó sẽ bị coi là vô hiệu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Một số trường hợp vô hiệu thường gặp gồm:
- Giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
- Giao dịch vô hiệu do giả tạo
- Giao dịch vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
- Giao dịch vô hiệu do bị nhầm lẫn
- Giao dịch vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
- Giao dịch vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Khi GDDS bị tuyên vô hiệu, về nguyên tắc các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực dân sự. Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.








