Theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Luật đất đai 2013 thì đại diện chủ sở hữu có quyền quy định về hạn mức sử dụng đất. Tuy nhiên, Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn không có quy định cụ thể về hạn mức công nhận đất ở cho từng địa phương. Pháp luật hiện nay quy định theo hướng mở cho phép các địa phương tùy theo điều kiện cụ thể để quy định một mức phù hợp.
Quy định chung
Điểm a khoản 4 Điều 103 Luật đất đai 2013 quy định “UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện, tập quán tại địa phương quy định hạn mức đất ở cho mỗi hộ gia đình sao cho phù hợp với tập quán ở địa phương theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình”.
Như vậy, điều luật cho các địa phương tùy nghi quy định hạn mức đất ở sao cho phù hợp với tập quán ở địa phương. Thực tế cho thấy các địa phương đều quy định về hạn mức đất ở dựa trên cơ sở hạn mức giao đất ở mới. Và hạn mức công nhận đất ở cũng không cố định là bao nhiêu m2 mà tùy từng trường hợp, thời điểm sử dụng đất …..vv. Cụ thể như sau:
Hạn mức sử dụng đất đối với các trường hợp thửa đất có vườn ao và sử dụng trước ngày 18/12/1980
Đối với trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980, người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định 43/2014 mà trong giấy tờ đó chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất bằng diện tích thực tế của thửa đất đối với trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn 05 lần hạn mức giao đất ở, bằng 05 lần hạn mức giao đất ở đối với trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn 05 lần hạn mức giao đất ở theo quy định của Luật Đất đai.
Phần diện tích còn lại lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì được giải quyết như thế nào???
Phần diện tích đất còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định nêu trên mà hiện đang là vườn, ao nếu người sử dụng đất đề nghị được công nhận là đất ở hoặc đất phi nông nghiệp khác thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích đó và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính (Nộp tiền sử dụng đất) theo quy định của pháp luật.
Đối với trường hợp đã được cấp “Sổ đỏ” trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà tại thời điểm cấp chưa xác định hoặc chưa xác định lại diện tích đất ở theo quy định. Nay người sử dụng đất có đơn đề nghị xác định lại diện tích đất ở hoặc khi Nhà nước thu hồi đất thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều 103 của Luật Đất đai 2013 và quy định nêu trên.
Và khi xác định lại hạn mức đất ở theo quy định nêu trên thì hộ gia đình, cá nhân không phải nộp tiền sử dụng đất, được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với diện tích đã được xác định lại là đất ở.
Đối với các trường hợp sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai thì khi cấp “Sổ đỏ” việc xác định hạn mức công nhận đất ở như sau:
a/ Đất được sử dụng trước ngày 15/10/1993.
Trường hợp đất được sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở. Nếu diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó.
b/ Đất được sử dụng sau ngày 15/10/1993.
Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở của UBND cấp tỉnh quy định thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở. Nếu thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;
Hạn mức đất ở được áp dụng như thế nào???
Việc áp dụng quy định về hạn mức đất ở của địa phương để xác định diện tích đất ở trong các trường hợp nêu trên được thực hiện theo quy định tại thời điểm người sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp lệ.
Như vậy, theo quy định của pháp luật nêu trên thì hạn mức công nhận đất ở cho hộ gia đình cá nhân ở mỗi địa phương là khác nhau. Và trong cùng một địa phương thì hạn mức công nhận đất ở đối với từng trường hợp cụ thể cũng có sự khác nhau và phụ thuộc vào nguồn gốc, tình trạng và thời điểm sử dụng.
Trên đây là một số nội dung cơ bản liên quan đến hạn mức công nhận đất ở. Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực đất đai, nhà ở. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website: http:// Luatduyhung.com.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.- VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
- Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
- Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879 – Zalo: Luật Duy Hưng - Email: luatduyhung@gmail.com
- Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
- Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"


