HỎI: Chào Luật sư! Tôi có một vấn đề cần luật sư tư vấn! Tôi và anh A hợp tác kinh doanh được 05 năm. Tôi bỏ tiền bạc, nhà xưởng, anh A bỏ công sức. Trong quá trình làm ăn, chúng tôi phát sinh tranh chấp và không hợp tác làm ăn nữa. Nay, anh A yêu cầu tôi trả các khoản tiền anh A đã nghiên cứu và xây dựng hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm được Sở Y tế chấp nhận mà chúng tôi bán lâu nay, với lý do là tôi đã sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ thuộc sở hữu của anh A là các sản phẩm công bố trên.
LUẬT DUY HƯNG TRẢ LỜI:
Hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm là gì?
Mặc dù trong Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm không có quy định nào định nghĩa hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm là gì. Tuy nhiên tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP có đưa ra các yêu cầu khi công đăng ký công bố sản phẩm đối với sản phẩm sản xuất trong nước như sau:
a) Bản công bố sản phẩm được quy định tại Mẫu số 02 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ;
b) Phiếu kết quả kiểm nghiệm an toàn thực phẩm của sản phẩm trong thời hạn 12 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ được cấp bởi phòng kiểm nghiệm được chỉ định hoặc phòng kiểm nghiệm được công nhận phù hợp ISO 17025 gồm các chỉ tiêu an toàn do Bộ Y tế ban hành theo nguyên tắc quản lý rủi ro phù hợp với quy định của quốc tế hoặc các chỉ tiêu an toàn theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn tương ứng do tổ chức, cá nhân công bố trong trường hợp chưa có quy định của Bộ Y tế (bản chính hoặc bản sao chứng thực);
c) Bằng chứng khoa học chứng minh công dụng của sản phẩm hoặc của thành phần tạo nên công dụng đã công bố (bản chính hoặc bản sao có xác nhận của tổ chức, cá nhân). Khi sử dụng bằng chứng khoa học về công dụng thành phần của sản phẩm để làm công dụng cho sản phẩm thì liều sử dụng hàng ngày của sản phẩm tối thiểu phải lớn hơn hoặc bằng 15% lượng sử dụng thành phần đó đã nêu trong tài liệu;
d) Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong trường hợp cơ sở thuộc đối tượng phải cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định (bản sao có xác nhận của tổ chức, cá nhân);
đ) Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu Thực hành sản xuất tốt (GMP) trong trường hợp sản phẩm sản xuất trong nước là thực phẩm bảo vệ sức khỏe áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2019 (bản sao có xác nhận của tổ chức, cá nhân).
Như vậy, hồ sơ công bố chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm là tập hợp các tài liệu để chứng minh cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền rằng đối tượng hàng hoá, sản phẩm chủ thể kinh doanh đó đạt được yêu cầu nhất định trước khi được đưa vào lưu thông trên thị trường. Hồ sơ này là điều kiện cần để doanh nghiệp đó thực hiện việc sản xuất kinh doanh.
Hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm có phải là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ không?
Căn cứ Khoản 1 Điều 1 Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009, đối tượng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm 03 nhóm chính:
Nhóm thứ 1: Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.
Nhóm thứ 2: Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
Nhóm thứ 3: Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch
Khi có tranh chấp liên quan đến việc xem xét rằng đối tượng đó có phải là đối tượng của sở hữu trí tuệ hay không thì phải xem xét đến điều kiện bảo hộ và căn cứ xác lập quyền của từng đối tượng đó. Nếu đối tượng xem xét không thuộc vào bất cứ nhóm nào trong số các nhóm đối tượng sở hữu trí tuệ luật chung và luật chuyên ngành ghi nhận hoặc nếu đối tượng tranh chấp không thoả mãn các điều kiện bảo hộ và nếu đối tượng đó không có căn cứ xác lập luật định thì có thể kết luận rằng đối tượng đó không phải đối tượng sở hữu trí tuệ.
Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Điều kiện bảo hộ quyền tác giả
Quyền tác giả là quyền của một tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình tạo ra hoặc sở hữu. Một tác phẩm muốn được bảo hộ thì tác phẩm đó phải: (1) được chấp nhận về nội dung tức là nội dung không vi phạm pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng an ninh; (2) được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định ; và (3) có tính nguyên gốc nghĩa là không sao chép, không bắt chước tác phẩm khác. Các loại tác phẩm được bảo hộ theo quy định tại Điều 14 Luật SHTT.
Trong các loại hình tác phẩm bảo hộ này không thấy đối tượng là hồ sơ công bố chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Hồ sơ này thực chất là tập hợp những tài liệu có liên quan đến chất lượng, điều kiện vệ sinh, an toàn thực phẩm được ban hành theo mẫu của Bộ Y tế, đây là các văn bản hành chính. Chính vì vậy mà tính sáng tạo trong các hồ sơ này hoàn toàn không có. Khi không đáp ứng điều kiện sáng tạo thì đối tượng này không được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả.
Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Xét mối liên quan giữa hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm thấy rằng các đối sau sẽ bị loại trừ: KDCN, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Điều này đồng nghĩa với việc BMKD và sáng chế có thể có mối liên quan với hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. Hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm có thể có mối liên hệ với BMKD.
BMKD là những thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. BMKD mặc dù là thông tin nhưng những thông tin này không phải là những hiểu biết thông thường và chỉ có một số ít người biết về những thông tin này,
Từ quy định của Điều 84 Luật SHTT, có thể thấy rằng một đối tượng muốn được bảo hộ là BMKD phải tồn tại trong tình trạng bí mật. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn đi ngược lại với hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. Chính vì điều này mà hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm không được xem là BMKD. Và do đó, không là đối tượng SHTT dưới góc độ này.
Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”. Sáng chế có thể được thể hiện dưới dạng quy trình (quy trình sản xuất, quy trình điều chế). Do đó, nếu trong hồ sơ công bố chất lượng của cơ sở bạn có mô tả quy trình sản xuất rượu thì có một khả năng là quy trình có thể được bảo hộ dưới dạng sáng chế.
Tuy nhiên, khả năng này rất khó xảy ra. Bởi lẽ (i) đây là hồ sơ công bố chất lượng được làm theo mẫu của Bộ Y tế, (ii) nếu có một quy trình sản xuất, hoặc quy trình điều chế rượu thì việc mô tả và công bố đối tượng có thể dẫn đến việc đối tượng đó bị mất đi tính mới. Tính mới của sáng chế được quy định tại Điều 60 của Luật SHTT. Theo đó, sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa được bộc lộ công khai dưới các hình thức như sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc các hình thức thể hiện khác. Một đối tượng bảo hộ dưới dạng sáng chế phải đáp ứng các điều kiện về tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp… công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm có thể mô tả trình sản xuất, chế biến rượu, nhưng như đã đề cập ở trên, nếu thể hiện ở dưới dạng mô tả ở hồ sơ thì không đáp ứng được tính mới và do đó không được bảo hộ.
Căn cứ xác lập đối tượng sở hữu trí tuệ
Để xem xét liệu rằng hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm có phải là đối tượng quyền tác giả hay không, cần phải xem xét các căn cứ xác định đối tượng được bảo hộ. Việc xác định đối tượng được bảo hộ được thực hiện bằng cách xem xét các tài liệu chứng cứ chứng minh các căn cứ phát sinh xác lập quyền theo quy định tại Điều 6 Luật SHTT. Căn cứ xác lập quyền hoàn toàn khác nhau giữa quyền tác giả và quyền SHCN.
Theo đó, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Trong khi đó, quyền SHCN đối với sáng chế được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký. Quyền SHCN đối với BMKD được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp BMKD và thực hiện việc bảo mật BMKD đó.
Ngoài ra, cơ quan cấp văn bằng bảo hộ cho các đối tượng SHTT sẽ khác nhau tùy vào nhóm đối tượng đó là đối tượng nào. Đối với quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan sẽ được cấp bởi Cục Bản quyền tác giả văn học – nghệ thuật. Đối với quyền SHTT, văn bằng sẽ được cấp bởi Cục SHTT. Văn băng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cấp cho chủ sở hữu quyền. Văn bằng bảo hộ chính là cơ sở mà căn cứ vào đó chủ sở hữu quyền có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ mình khi quyền SHTT của mình bị xâm phạm. Trên cơ sở văn bằng bảo hộ được cấp, chủ sở hữu quyền phải đóng phí duy trì hiệu lực của văn bằng. Trên cơ sở đó, đối chiếu với hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm của cơ sở của bạn. Sở Y tế là cơ quan tiếp nhận hồ sơ công bố chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm của đơn vị sản xuất.
Kết luận: Như vậy, xét về căn cứ xác lập cũng như xét đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý và cấp văn bằng thì các hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm được Sở Y tế tiếp nhận không phải là các đối tượng SHTT được bảo hộ. Sở Y tế cũng không phải là cơ quan có thẩm quyền trong việc xác lập quyền SHTT. Các hồ sơ của ông A cũng không phải là các văn bằng bảo hộ được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền về SHTT. Do đó viêc ông A cho rằng hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm được Sở Y tế mà ông A đã bỏ công sức nghiên cứu và xây dựng là đối tượng quyền SHTT là không đúng theo quy định pháp luật và ông A không có quyền yêu cầu bạn trả tiền từ việc thực hiện công việc này.
Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.- VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
- Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
- Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879 – Zalo: Luật Duy Hưng - Email: luatduyhung@gmail.com
- Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
- Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"


