“Không có tên trong di chúc nhưng vẫn được hưởng thừa kế – trường hợp nào?” là vấn đề hiện đang nhận được sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt trong các trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc phân chia di sản thừa kế. Vậy pháp luật quy định như thế nào về trường hợp người không được chỉ định trong di chúc nhưng vẫn có quyền hưởng di sản? Về vấn đề này, Công ty Luật Duy Hưng xin được giải đáp như sau:
Không có tên trong di chúc nhưng vẫn được hưởng thừa kế – trường hợp nào?
Căn cứ Điều 644 BLDS 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như sau:
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”
Như vậy, dù không được người lập di chúc cho hưởng di sản thì 02 trường hợp sau vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật.
Trường hợp 1: Cha, mẹ, vợ, chồng của người lập di chúc.
Ví dụ minh hoạ: Ông A chết để lại di sản 100 triệu. Trước khi chết, ông A có lập di chúc để lại hết tài sản cho anh C (30 tuổi) là con chung của ông A và vợ là bà B. Theo di chúc này thì bà B không được hưởng phần di sản nào.
Tuy nhiên, áp dụng quy định về “thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” thì bà B sẽ được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu chia di sản theo pháp luật. Tức là nếu di sản ông A được chia theo pháp luật thì hàng thừa kế thứ nhất chỉ có bà B và anh C. Do đó, 100 triệu sẽ được chia hai, mỗi người được hưởng 50 triệu.
Vì vậy, khi áp dụng quy định về “ thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” thì bà B sẽ được hưởng 2/3 của 50 triệu, tức là khoảng 33,3 triệu đồng. Sau khi chia cho bà B xong thì anh C sẽ được hưởng tất cả phần còn lại theo nội dung của di chúc mà ông A đã định đoạt.
Trường hợp 2: Con chưa thành niên, con thành niên mà không có khả năng lao động.
Căn cứ Khoản 1 Điều 21 BLDS 2015 quy định: “1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.” Căn cứ quy định này, có thể thấy, người chưa đủ 18 tuổi được coi là người chưa thành niên.
Ví dụ: Ông A có một căn nhà và quyền sử dụng đất. Ông A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho con gái lớn là chị B. Tuy nhiên, ông A còn một người con trai 10 tuổi là C, và một người con trai là D đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không ghi tên C, D trong di chúc.
Khi ông A qua đời, người con C, D vẫn có quyền được hưởng phần di sản bắt buộc theo quy định pháp luật, mặc dù không được chỉ định trong di chúc. Phần di sản này có thể bao gồm giá trị quyền sử dụng đất và nhà ở thuộc di sản của ông A.
Khi nào thì người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không được nhận di sản thừa kế?
Trường hợp 1: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc từ chối nhận di sản do người chết để lại
Căn cứ Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015 quy đinh về Từ chối nhận di sản như sau:
“1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.
3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.”
Trường hợp 2: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không có quyền hưởng di sản
Căn cứ Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người không được quyền hưởng di sản, bao gồm:
– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
– Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
– Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực dân sự. Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.




