Toà án giải đáp 02 vướng mắc liên quan tranh chấp thừa kế như thế nào? Hãy cùng Luật Duy Hưng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Tranh chấp thừa kế là gì?
Thừa kế là quá trình chuyển giao tài sản của người đã qua đời cho những người còn sống. Khối tài sản để lại được gọi là di sản. Khi có nhiều người cùng có quyền hưởng di sản nhưng không thống nhất được cách chia hoặc xác định quyền hưởng, có thể phát sinh tranh chấp thừa kế.
Tranh chấp thừa kế là xung đột giữa những người có quyền hoặc nghĩa vụ liên quan đến di sản, thường liên quan đến việc chia phần, xác định người thừa kế hợp pháp hoặc giải quyết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
Các dạng tranh chấp thừa kế phổ biến hiện nay
Dưới đây là các loại tranh chấp thừa kế thường gặp trong thực tiễn pháp lý và tố tụng, gồm:
– Tranh chấp về chia di sản thừa kế: Đây là dạng tranh chấp phổ biến nhất, xảy ra khi các bên không thống nhất được về việc chia tài sản do người chết để lại. Nguyên nhân có thể do không xác định rõ tài sản chung – riêng, không đồng thuận về tỷ lệ chia, hoặc một số người bị gạt ra khỏi việc phân chia.
Đặc điểm của dạng tranh chấp này liên quan trực tiếp đến quyền lợi vật chất giữa các bên, phức tạp về chứng cứ và hồ sơ tài sản và thường kéo dài do có yếu tố tình cảm gia đình và tài sản lớn.
– Tranh chấp về xác nhận quyền thừa kế: Phát sinh khi có người cho rằng mình có quyền được hưởng di sản nhưng bị các bên khác phủ nhận, hoặc khi quyền thừa kế của một người cần được Tòa án công nhận.
Tình huống thường gặp là người con ngoài giá thú đòi quyền thừa kế; Người nuôi dưỡng, sống chung như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn; hay di chúc chỉ định người không thuộc hàng thừa kế pháp luật.
– Tranh chấp về bác bỏ quyền thừa kế: Là tranh chấp yêu cầu loại trừ một người ra khỏi danh sách được hưởng di sản. Dạng này thường căn cứ vào các trường hợp bị truất quyền thừa kế, vi phạm đạo đức, ngược đãi người để lại di sản hoặc có hành vi gian dối trong việc lập di chúc. Việc chứng minh và xác định lý do bác bỏ rất phức tạp, đòi hỏi chứng cứ chặt chẽ và xác minh kỹ lưỡng.
– Tranh chấp về nghĩa vụ tài sản do người chết để lại: Khi người chết còn nợ nần, trách nhiệm thanh toán sẽ được chuyển cho người thừa kế. Tuy nhiên, tranh chấp xảy ra khi các bên không thống nhất nghĩa vụ phải trả, hoặc người thừa kế không thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản nhận được, hay di sản chưa chia hoặc đã chia nhưng nghĩa vụ chưa được thực hiện đầy đủ.
Luật quy định người thừa kế phải trả nghĩa vụ tài chính trong phạm vi tài sản họ nhận được, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Đây cũng là một nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp giữa người thừa kế và bên thứ ba (chủ nợ, đối tác…).
Toà án giải đáp 02 vướng mắc liên quan tranh chấp thừa kế
Đây là giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao tại Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026 thông báo kết quả giải đáp trực tuyến vướng mắc trong công tác xét xử. Cụ thể, giải đáp 2 vướng mắc liên quan tranh chấp thừa kế được Toà án giải đáp như sau:
Hỏi: Khi khởi kiện những người thừa kế để thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại thì người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh là người chết có để lại tài sản. Trong trường hợp này Tòa án thụ lý vụ án hay trả lại đơn khởi kiện vì thuộc trường hợp “chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự?
Toà án giải đáp:
Điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:
“b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;”
Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn:
“Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó”.
Như vậy, tại thời điểm khởi kiện người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh là người chết có để lại tài sản thì không thuộc trường hợp “chưa đủ điều kiện khởi kiện” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP nên Tòa án vẫn phải xem xét thụ lý vụ án. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình theo quy định của pháp luật.
Hỏi: Điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết”. Vậy trong vụ án tranh chấp thừa kế tài sản là bất động sản, vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (đặt cọc, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại…) thì Tòa án nơi bị đơn cư trú, nơi có bất động sản hay nơi thực hiện hợp đồng có thẩm quyền giải quyết?
Toà án giải đáp:
Theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự là tranh chấp về dân sự.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì “Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này”.
Trong vụ án tranh chấp thừa kế tài sản thì quan hệ pháp luật cần giải quyết là chia thừa kế; trong vụ án tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự thì quan hệ pháp luật cần giải quyết là quyền và nghĩa vụ theo giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.
Đối với vụ án tranh chấp thừa kế tài sản là bất động sản thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc.
Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn thì Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (hợp đồng đặt cọc, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại…) thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 hoặc điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự (Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu).
Đối với những tranh chấp mà đối tượng của tranh chấp là bất động sản thì việc xác định thẩm quyền theo quy định điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự là Tòa án nơi có bất động sản giải quyết.
Trên đây là bài biết về “Toà án giải đáp 02 vướng mắc liên quan tranh chấp thừa kế“. Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực dân sự. Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.






