QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG

luбє­t duy hЖ°ng

Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại (BTTH) trong hợp đồng là hai hình thức trách nhiệm dân sự thông dụng và được áp dụng nhiều không chỉ trong các hợp đồng dân sự mà cả trong hợp đồng thương mại và trong các hợp đồng xây dựng.

Phạt vi phạm hợp đồng là một biện pháp chế tài quan trọng nhằm ràng buộc trách nhiệm giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005, phạt vi phạm là khoản tiền mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm theo thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Mức phạt vi phạm trong hợp đồng dân sự do các bên tự thỏa thuận, nhưng trong hợp đồng thương mại, mức phạt tối đa không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định pháp luật. Ngoài phạt vi phạm, bên bị vi phạm còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được tổn thất thực tế.

Bài viết phân tích chi tiết về điều kiện áp dụng, mức phạt, và các trường hợp miễn trách nhiệm, giúp doanh nghiệp và cá nhân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình khi ký kết và thực hiện hợp đồng.

Phạt hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Thỏa thuận phạt vi phạm được quy định cụ thể tại Điều 418 Bộ Luật Dân sự 2015 như sau:

“1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”

Vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Bên có hành vi vi phạm chỉ phải thực hiện nghĩa vụ này khi có sự thỏa thuận trước của các bên được ghi nhận trong hợp đồng. Điều này xuất phát từ bản chất của chế tài phạt vi phạm là biện pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế hành vi vi phạm (khi vi phạm chưa xảy ra), đồng thời cũng là biện pháp nhằm trừng phạt bên vi phạm hợp đồng (đã xảy ra hành vi vi phạm), với ý nghĩa trên, pháp luật tôn trọng và tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận mức phạt để phát huy được đầy đủ ý nghĩa của nó nhất.

Mức phạt vi phạm không phụ thuộc vào thiệt hại thực tế mà do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật. Cụ thể mức phạt được quy định tại khoản 2 như sau “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”. Về cơ bản mức phạt do các bên thỏa thuận và không có quy định tối đa và tối thiểu nhưng nếu pháp luật khác có liên quan thì phải tuân thủ theo quy định của luật đó. Cụ thể tại Điều 301 Luật Thương mại 2005 quy định mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm trừ trường hợp vi phạm hợp đồng dịch vụ giám định; bên cạnh đó Khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng cũng quy định đối với công trình xây dựng vốn nhà nước, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm.

Bên cạnh đó, các bên cũng cần lưu ý mức phạt trong các hợp đồng thương mại và xây dựng được tính theo “giá trị phần hợp đồng bị vi phạm” chứ không phải là toàn bộ giá trị của hợp đồng nên các bên chủ thể cần có thỏa thuận phạt vi phạm phù hợp với quy định của pháp luật mà các bên tham gia để tránh những trường hợp tranh chấp về mức phạt vi phạm.

Về vấn đề phạt vi phạm và phạt BTTH, các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải BTTH hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải BTTH. Các bên có thể thỏa thuận trước về việc BTTH cũng như xác định trước trong hợp đồng một mức bồi thường cụ thể bằng tiền. Tuy nhiên, khác với phạt vi phạm là chỉ được áp dụng nếu như các bên có thỏa thuận trước về phạt vi phạm, đối với BTTH, cho dù các bên có thỏa thuận về vấn đề BTTH do vi phạm hợp đồng hay không, thì khi xảy ra thiệt hại, bên gây thiệt hại vẫn phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm BTTH nhắm tới mục đích quan trọng nhất là bồi hoàn, bù đắp, khôi phục lợi ích vật chất bị thiệt hại cho bên bị vi phạm.

Như vậy, có thể thấy rằng việc phạt vi phạm là thỏa thuận của các bên và chỉ được thực hiện khi các bên có thỏa thuận mà không phụ thuộc vào việc đã có thiệt hại trên thực tế xảy ra hay chưa, mức phạt do các bên tự thỏa thuận trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

Luat-su-hop-dong


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến quy định pháp luật về hợp đồng. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website: http://luatduyhung.com.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879