THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI DI CHÚC VÔ HIỆU

CÔNG TY LUẬT TNHH DUY HƯNG

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tài sản của người chết có thể là quyền sử dụng đất, sổ tiết kiệm, cổ phần…….vv. Vậy pháp luật quy định như thế nào về việc lập di chúc, di chúc nào bị coi là không có hiệu lực pháp luật và việc phân chia di sản trong trường hợp di chúc không có hiệu lực….vv như thế nào?. Để giải đáp vấn đề này chúng Luật Duy Hưng xin trình bày một số vấn cơ bản theo quy định của pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất khi di chúc vô hiệu để Quý vị tham khảo.

Thứ nhất: Quy định của pháp luật về người lập di chúc.

Theo quy định tại Điều 625 BLDS 2015 thì người lập di chúc phải là người thành niên và phải tỉnh táo, minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc. Đồng thời, người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, de dọa hay cưỡng ép khi lập di chúc.

Ngoài ra, người từ đủ 65mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi cũng được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ của những người này đồng ý về việc cho họ lập di chúc.

Thứ hai: Hình thức của di chúc và người làm chứng.

a/ Hình thức của di chúc: Theo quy định tại Điều 627 BLDS 2015 thì “Di chúc” có hai hình thức lập. Đó là Di chúc được lập thành văn bản (chúc thư); Và di chúc miệng (chúc ngôn). Tuy nhiên, cũng theo quy định tại Điều luật này thì “Di chúc miệng” chỉ được lập trong trường hợp không thể lập được di chúc bằng văn bản. BLDS 2015 quy tại Điều 629 về “Di chúc miệng” như sau:

  • Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
  • Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Ngoài ra, việc lập “Di chúc miệng” phải được lập trước ít nhất 02 người làm chứng và ngay sau khi người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Di chúc bằng văn bản bao gồm các loại sau:

  • Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
  • Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;
  • Di chúc bằng văn bản có công chứng;
  • Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

b/ Người làm chứng, công chứng viên: Theo quy định tại Điều 632 BLDS 2015 và Điều 637 thì những người sau đây không có quyền làm chứng, công chứng, chứng thực cho việc lập Di chúc. Những người đó gồm:

  • Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
  • Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
  • Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
  • Công chứng viên, người có thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu họ thuộc những trường hợp sau: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật; Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

Ngoài những người nên trên thì bất cứ ai cũng có quyền làm chứng cho việc lập Di chúc.

Thứ ba: Điều kiện để Di chúc được coi là Hợp pháp.

Theo quy định tại Điều 630 BLDS 2015 thì Di chúc được xác định là hợp pháp khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây.

  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
  • Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Quy định của pháp luật về hình thức di chúc của một số trường hợp đặc biệt như sau:

  • Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
  • Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
  • Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
  • Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Pháp luật hiện nay không có quy định cụ thể “Di chúc” nào là không hợp pháp, mà chỉ có quy định về di chúc hợp pháp nêu trên. Khái niệm “Di chúc không hợp pháp” chỉ được đề cập trong Điều 650 quy định về “Những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật”. Như vậy ta có thể thấy, những những di chúc không đáp ứng các điều kiện quy định nêu trên thì bị coi là không hợp pháp.

Thứ 4: Phân chia di sản trong trường hợp Di chúc vô hiệu.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 650 BLDS 2015 về “Những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật” thì trong trường hợp di chúc do người người chết để lại để phân chi di sản mà di chúc đó bị coi là không hợp pháp thì việc phân chia di sản sẽ được chia theo pháp luật. Và việc xác định và phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a/ Xác định hàng thừa kế:

  • Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  • Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  • Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

b/ Nguyên tắc phân chia di sản:  Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

c/ Trường hợp thừa kế thế vị: Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Thừa kế quyền sử dụng đất khi di chúc vô hiệu

Thứ năm: Vậy phân chia di sản là quyền sử dụng đất có gì khác với các di sản khác?

Về nguyên tắc nó cũng được phân chia theo đúng quy định của pháp luật đó là người cùng hàng thì được phân chia di sản bằng nhau. Tức di sản là quyền sử dụng đất được phân chia đều cho những người thuộc cùng hàng thừa kế. Tuy nhiên, không phải thửa đất nào là di sản thừa kế cũng có thể phân chia đều cho người thừa kế. Vì có nhiều trường hợp vì diện tích đất quá nhỏ, không thể phân chia được bằng hiện vật và nếu phân chia thì cũng không đảm bảo được việc đưa quyền sử dụng đất phần diện tích sau khi được phân chia vào khai thác, sử dụng. Đối với những trường hợp này, nếu các đồng thừa kế thương lượng, thỏa thuận được với nhau về người được sử dụng đất, người được hưởng giá trị quyền sử dụng đất thì mọi việc rất tốt đẹp, thủ tục nhanh gọn, đơn giản, tiết kiệm thời gian công sức và tiền của và điều quan trọng hơn cả họ vẫn giữ được sự tình cảm gia đình.

Tuy nhiên, trên thực tế không ít những trường hợp vì một lý do nào đó những người thừa kế không thỏa thuận được với nhau về việc phân chia di sản là quyền sử dụng đất xem ai là người được sử dụng đất, ai được hưởng phần giá trị quyền sử dụng đất thì vấn đề trở nên rất phức tạp và pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, thông thường khi xem xét thì TAND thường cân nhắc, xem xét dựa theo các tiêu chí như: thực tế sinh sống, điều kiện về chỗ ở, công sức đóng góp, trách nhiệm thờ cúng….vv để quyết định cho ai là người được hưởng quyển sử dụng đất và ai là người được hưởng giá trị khi phân chia di sản là quyền sử dụng đất.

Trên đây là những quy định cơ bản của pháp luật về hình thức của di chúc, tính hợp pháp của di chúc và việc phân chia di sản khi di chúc bị coi là không hợp pháp hay còn gọi là Di chúc vô hiệu. Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến pháp luật về thừa kế. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website: http://LuatDuyHung.com hoặc gọi đến liên hệ trực tiếp để được tư vấn.

Hotline:  0964653879 hoặc 0929228082.

Facebook: https://www.facebook.com/luatduyhung/

Zalo: Luatduyhung  (SĐT: 0964653879)

Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!

Trân trọng./.

CÔNG TY LUẬT TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN DUY HƯNG

post-logo

>> Tư vấn pháp lý miễn phí 24/7 Gọi: 0964653879 - 0929228082

>> Tư vấn pháp lý qua email : luatduyhung@gmail.com

>> Bài viết tham khảo

>> Dịch vụ pháp lý tại Luật Duy Hưng

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *