TỔ CHỨC CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CÓ ĐƯỢC SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM???

luбє­t duy hЖ°ng

Hiện nay nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thắc mắc về việc có được được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Để giải quyết vấn đề này, Luật Duy Hưng xin được trình bày một số quy định pháp luật liên quan đến điều kiện để tổ chức cố vốn đầu tư nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài là vấn đề được nhiều nhà đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh thị trường bất động sản ngày càng thu hút dòng vốn ngoại. Tuy nhiên, không phải mọi tổ chức có yếu tố nước ngoài đều được phép mua, sở hữu nhà ở tại Việt Nam, và việc sở hữu này cũng bị giới hạn bởi nhiều quy định pháp lý cụ thể. Vậy tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài có được sở hữu nhà ở tại Việt Nam không? Nếu có thì theo điều kiện nào, phạm vi ra sao? Trong bài viết dưới đây, Luật Duy Hưng sẽ phân tích chi tiết các quy định của Luật Nhà ở 2014, Luật Kinh doanh bất động sản và các văn bản liên quan, nhằm làm rõ quyền và giới hạn pháp lý trong việc sở hữu nhà ở của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.

Căn cứ pháp lý:

– Luật Đất đai 2013

– Luật Nhà ở 2014

Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai

– Nghị định 99/2015/NĐ-CP Chính phủ ban hành quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở.

Căn cứ Khoản 1 Điều 191 Luật đất đai 2013 quy định về trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất như sau:

“1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.”

Và Điểm b, Khoản 1 Điều 159 Luật Nhà ở 2014 quy định về Đối tượng được sở hữu nhà ở và hình thức sở hữu nhà ở tại Việt Nam:

1. Đối tượng tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao gồm:

b) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức nước ngoài);

Như vậy, theo quy định của pháp luật Đất đai và Nhà ở thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, nhưng phải đáp ứng một số điều kiện cơ bản sau:

Căn cứ Điều 160 và Điều 160 Luật Nhà ở 2014 có quy định về điều kiện và quyền của tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Căn cứ Điều 76 Nghị định 99/2015/NĐ-CP quy định về số lượng nhà ở mà tổ chức có vốn đầu tư nước nước ngoài được sở hữu.

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất tại Việt NamĐiều kiện để tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam như sau:

Điều kiện về doanh nghiệp:

Tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài phải có Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ liên quan đến việc được phép hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận đầu tư) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp

Điều kiện về khu vực:

Tổ chức ngoài chỉ được sở hữu nhà ở (bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ) trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Số lượng:

– Căn hộ chung cư:

Tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 30% tổng số căn hộ của một tòa nhà chung cư;

Trường hợp trên một địa bàn có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường mà có nhiều tòa nhà chung cư để bán, cho thuê mua thì tổ chức chỉ được sở hữu không quá 30% số căn hộ của mỗi tòa nhà chung cư và không quá 30% tổng số căn hộ của tất cả các tòa nhà chung cư này.

– Nhà ở riêng lẻ:

Trên một địa bàn có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường mà có dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, trong đó có nhà ở riêng lẻ để bán, cho thuê mua thì tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài được sở hữu số lượng nhà ở riêng lẻ theo quy định sau đây:

+ Trường hợp chỉ có một dự án có số lượng nhà ở riêng lẻ dưới 2.500 căn thì tổ chức chỉ được sở hữu không quá 10% tổng số lượng nhà ở trong dự án đó;
+ Trường hợp chỉ có một dự án có số lượng nhà ở riêng lẻ tương đương 2.500 căn thì tổ chức chỉ được sở hữu không quá 250 căn;
+ Trường hợp có từ hai dự án trở lên mà tổng số nhà ở riêng lẻ trong các dự án này ít hơn hoặc bằng 2.500 căn thì tổ chức chỉ được sở hữu không quá 10% số lượng nhà ở của mỗi dự án.

Thời hạn sở hữu nhà ở:

Tổ chức vốn đầu tư nước ngoài được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không vượt quá thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư cấp cho tổ chức đó, bao gồm cả thời gian được gia hạn thêm; thời hạn sở hữu nhà ở được tính từ ngày tổ chức được cấp Giấy chứng nhận và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận này.


Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến quy định pháp luật về sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website: http://luatduyhung.com.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879