TRANH CHẤP DI CHÚC VỀ ĐẤT ĐAI GIẢI QUYẾT THẾ NÀO?

luбє­t duy hЖ°ng

Không ít gia đình rơi vào cảnh anh em kiện nhau ra tòa chỉ vì một tờ di chúc — người thì cho rằng di chúc là giả, người thì nghi ngờ cha mẹ bị ép buộc lúc lập di chúc, người khác lại thắc mắc vì sao mình không được nhắc tên dù là con ruột. Tranh chấp di chúc về đất đai là một trong những loại tranh chấp thừa kế phức tạp nhất, vì phải chứng minh được di chúc có hợp pháp hay không, thay vì chỉ đơn thuần chia di sản theo pháp luật.

Bài viết dưới đây, Luật Duy Hưng sẽ phân tích các căn cứ pháp lý cụ thể để xác định di chúc có hiệu lực hay không, đồng thời hướng dẫn cách giải quyết khi phát sinh tranh chấp.

Tranh chấp di chúc về đất đai phát sinh khi nào?

Tranh chấp di chúc về đất đai phát sinh khi những người có quyền, lợi ích liên quan không thống nhất về hiệu lực pháp lý hoặc nội dung của di chúc mà người để lại đất đai đã lập, ví dụ:

– Nghi ngờ di chúc bị giả mạo chữ ký, giả mạo nội dung;TRANH CHẤP DI CHÚC VỀ ĐẤT ĐAI GIẢI QUYẾT THẾ NÀO?– Cho rằng người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt hoặc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép tại thời điểm lập di chúc;

– Di chúc không đúng hình thức theo quy định (không có người làm chứng hợp lệ, không công chứng/chứng thực trong trường hợp bắt buộc);

– Di chúc định đoạt cả phần tài sản không thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc (ví dụ tài sản chung vợ chồng nhưng chỉ một người tự ý lập di chúc định đoạt toàn bộ);

– Người thừa kế không được nêu tên trong di chúc nhưng thuộc diện được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Khác với tranh chấp chia thừa kế theo pháp luật (không có di chúc), loại tranh chấp này đòi hỏi phải xem xét, đánh giá tính hợp pháp của di chúc trước khi xác định ai được hưởng phần đất nào.

Căn cứ pháp lý xác định di chúc hợp pháp

Điều kiện để di chúc có hiệu lực

Theo khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc hợp pháp phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt tại thời điểm lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;

Hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Ngoài ra, Điều 630 còn quy định các điều kiện riêng cho từng trường hợp đặc thù:

Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải lập thành văn bản và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc;

Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ phải có người làm chứng lập thành văn bản và được công chứng hoặc chứng thực;

Di chúc miệng chỉ hợp pháp khi người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng trước ít nhất hai người làm chứng, và trong vòng 05 ngày làm việc kể từ thời điểm đó, di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người làm chứng (khoản 5 Điều 630, kết hợp Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015).

Người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự và quyền định đoạt tài sản

Căn cứ theo Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc phải là người thành niên minh mẫn, sáng suốt (hoặc người từ 15–18 tuổi lập di chúc bằng văn bản có sự đồng ý của cha mẹ/người giám hộ).

Đồng thời, người lập di chúc chỉ có quyền định đoạt phần tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình. Nếu đất là tài sản chung vợ chồng nhưng một người tự ý lập di chúc định đoạt toàn bộ, phần di chúc vượt quá phạm vi tài sản riêng sẽ không có giá trị pháp lý đối với phần tài sản của người còn lại.

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Ngay cả khi di chúc hợp pháp, không phải cứ không được nêu tên là mất quyền hưởng di sản. Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, các đối tượng sau vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật, nếu không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó:

Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng của người để lại di sản;

Con thành niên nhưng không có khả năng lao động.

Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để một số người thừa kế yêu cầu chia lại phần đất, dù di chúc hoàn toàn hợp pháp và không định đoạt phần đất cho họ.

Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

Theo Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào. Trường hợp có nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản, bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Đây là căn cứ để xác định giá trị pháp lý khi trong gia đình xuất hiện nhiều bản di chúc khác nhau — tình huống phổ biến trong tranh chấp thực tế.

Các dạng tranh chấp di chúc đất đai 

Nghi ngờ di chúc giả mạo chữ ký, giả mạo nội dung

Người khởi kiện cần thu thập chứng cứ (giám định chữ viết, chữ ký, dấu vân tay; lời khai người làm chứng…) để yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định và tuyên bố di chúc vô hiệu toàn bộ hoặc một phần theo Điều 122, Điều 623 và Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 (di chúc là giao dịch dân sự đơn phương, vô hiệu khi vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự).

Nghi ngờ người lập di chúc không minh mẫn hoặc bị ép buộc

Cần thu thập hồ sơ bệnh án, kết luận giám định tâm thần (nếu có), lời khai của bác sĩ điều trị, người chứng kiến việc lập di chúc tại thời điểm đó để chứng minh người lập di chúc không đủ điều kiện nhận thức, làm chủ hành vi theo khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015.

Di chúc không đúng hình thức bắt buộc

Ví dụ: di chúc miệng nhưng không được ghi chép, công chứng/chứng thực xác nhận trong thời hạn luật định; hoặc di chúc của người không biết chữ nhưng không có người làm chứng và không công chứng, chứng thực theo Điều 630, Điều 632, Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 — những trường hợp này có thể bị tuyên vô hiệu về mặt hình thức.

Có nhiều bản di chúc mâu thuẫn nhau

Áp dụng nguyên tắc tại Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015: di chúc lập sau cùng, hợp pháp, có hiệu lực sẽ thay thế các di chúc trước đó đối với phần nội dung mâu thuẫn.

Tranh chấp di chúc về đất đai, giải quyết như thế nào?

Thỏa thuận nội bộ giữa các bên

Nếu các bên liên quan tự nguyện thống nhất cách phân chia (dù có tranh cãi ban đầu về di chúc), có thể lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản, công chứng theo quy định, không cần đưa vụ việc ra Tòa án.

Yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc vô hiệu và chia di sản

Khi không thể thỏa thuận, người có quyền, lợi ích liên quan khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có bất động sản (theo Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015), yêu cầu:

– Tuyên bố di chúc vô hiệu toàn bộ hoặc một phần;

– Chia di sản theo di chúc hợp pháp (nếu di chúc chỉ vô hiệu một phần) hoặc chia theo pháp luật (nếu di chúc vô hiệu toàn bộ, áp dụng Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015).

Hồ sơ khởi kiện cơ bản gồm:

– Đơn khởi kiện;

– Bản sao di chúc đang tranh chấp;

– Giấy chứng tử của người lập di chúc;

– Giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế;

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất/giấy tờ về nguồn gốc đất;

– Chứng cứ chứng minh yêu cầu (kết quả giám định, hồ sơ bệnh án, lời khai người làm chứng nếu có).

Tương tự tranh chấp thừa kế nói chung, tranh chấp về hiệu lực di chúc và chia di sản không bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã trước khi khởi kiện, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.

Thời hiệu khởi kiện tranh chấp di chúc là bao lâu?

Căn cứ theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế.

Riêng với yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu vì lý do giao dịch dân sự vô hiệu (ví dụ do lừa dối, đe dọa, cưỡng ép), cần lưu ý thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 là 02 năm kể từ ngày người có quyền, lợi ích hợp pháp biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Việc xác định đúng loại thời hiệu áp dụng cho từng căn cứ vô hiệu là điểm mấu chốt quyết định vụ kiện có được thụ lý hay không.

Qua thực tiễn tư vấn và tham gia tố tụng các vụ tranh chấp di chúc, Luật Duy Hưng nhận thấy sai lầm phổ biến nhất của người dân là nhầm lẫn giữa các loại thời hiệu — nhiều người để quá 2 năm kể từ khi biết di chúc có dấu hiệu bị ép buộc mới khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu vì lý do này, dẫn đến mất quyền khởi kiện theo căn cứ đó (dù vẫn có thể còn quyền yêu cầu chia di sản theo thời hiệu 30 năm nếu chuyển sang căn cứ khác).

Chúng tôi khuyến nghị:

Khi phát hiện dấu hiệu bất thường về di chúc, cần thu thập, bảo quản chứng cứ (hồ sơ y tế, ghi âm, lời khai người làm chứng) càng sớm càng tốt, vì chứng cứ dễ bị thất lạc hoặc người liên quan qua đời theo thời gian;

Cần luật sư đánh giá kỹ căn cứ vô hiệu áp dụng cho từng vụ việc trước khi khởi kiện, vì mỗi căn cứ có thời hiệu và thủ tục chứng minh khác nhau;

Không nên vội ký các văn bản khai nhận, từ chối di sản khi chưa xác minh rõ tính hợp pháp của di chúc.


Trên đây là bài viết: Tranh chấp di chúc về đất đai giải quyết như thế nào? Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực dân sự. Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.

  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879