Khái quát chung về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng
Trong nền tảng đạo đức và pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam, chế độ một vợ một chồng là nguyên tắc cơ bản, được ghi nhận tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đây không chỉ là chuẩn mực pháp lý mà còn là chuẩn mực xã hội nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình, sự bình đẳng giới và sự phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ.
Tuy nhiên, trong thực tế, không ít người đã coi thường quy định này và có hành vi vi phạm chế độ một vợ, gây nên những hệ lụy nặng nề cả về pháp lý lẫn đạo đức. Theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015, hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng không chỉ dừng lại ở mức vi phạm hành chính mà trong nhiều trường hợp còn bị xử lý hình sự với hình phạt tù.
Ví dụ điển hình là trường hợp một người chồng tuy đã ly thân với vợ nhưng chưa hoàn tất thủ tục ly hôn, lại dọn đến sống chung cùng người tình. Khi sự việc bị phát hiện và tố cáo, cơ quan công an đã khởi tố vụ án hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, khiến người chồng phải đối mặt với hình phạt tù và danh dự bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đây là minh chứng rõ ràng cho thấy hành vi này đã, đang và sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm minh.
Chế tài xử lí hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng
Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2020 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hôn nhân gia đình….……, thì hành vi vi phạm chế độ một vợ được coi là hành vi xâm phạm nếp sống văn minh và đạo đức xã hội, đồng thời đi ngược lại quy định pháp luật về hôn nhân gia đình. Cụ thể:
Hành vi vi phạm
+/ Người đang có vợ hoặc có chồng hợp pháp nhưng lại chung sống như vợ chồng với người khác.
+/ Người chưa có vợ, chưa có chồng nhưng chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có vợ hoặc có chồng.
Chủ thể thực hiện hành vi
Chủ thể thường là người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp, hoặc người chưa kết hôn nhưng có hành vi xâm phạm vào quan hệ hôn nhân hợp pháp của người khác.
Trình tự, thủ tục xử phạt
Cơ quan công an cấp xã/phường, sau khi tiếp nhận đơn tố cáo hoặc phản ánh, sẽ tiến hành xác minh. Nếu đủ căn cứ xác định có hành vi vi phạm chế độ một vợ, người vi phạm sẽ bị lập biên bản và ra quyết định xử phạt hành chính.
Mức xử phạt
Theo Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP thì mức xử phạt được quy định như sau:
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;
d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;
đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm d và đ khoản 2 Điều này.
Ví dụ thực tế
Một người đàn ông tại Hà Nội công khai đưa người tình về sống chung trong căn hộ của mình, trong khi trên pháp lý vẫn là chồng hợp pháp của vợ. Sau khi vợ làm đơn tố cáo, UBND phường đã tiến hành lập biên bản, xử phạt hành chính 5 triệu đồng. Sự việc gây ảnh hưởng lớn đến danh dự của cả hai bên gia đình, đồng thời khiến người đàn ông này mất uy tín tại nơi làm việc.
Chế tài xử lí hình sự đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng
Theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 và các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, hành vi vi phạm chế độ một vợ trong những trường hợp nghiêm trọng sẽ bị xử lý hình sự. Cụ thể điều luật quy định như sau:
Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
Cấu thành tội phạm
– Khách thể: Quan hệ hôn nhân một vợ một chồng được pháp luật bảo vệ.
– Mặt khách quan: Hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác trong khi đang có vợ hoặc có chồng hợp pháp.
– Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý, biết rõ mình đang vi phạm nhưng vẫn thực hiện.
– Chủ thể: Người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
Hình phạt áp dụng
Theo Điều 182 BLHS 2015:
+/ Phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.
+/ Trong trường hợp nghiêm trọng, phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Ví dụ thực tế
Một trường hợp tại TP.HCM, người chồng sau khi mâu thuẫn gay gắt với vợ về việc học tập của con đã bỏ nhà đi, rồi dọn đến sống cùng người tình. Hành vi này gây hậu quả gia đình tan vỡ, con cái thiếu thốn tình cảm, người vợ tinh thần suy sụp. Sau khi có đơn tố cáo, cơ quan công an đã tiến hành khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can về tội vi phạm chế độ một vợ. Người chồng không những phải chịu trách nhiệm hình sự mà còn đối diện với sự mất mát lớn về danh dự và sự nghiệp.
Hậu quả hành vi vi phạm
Hành vi vi phạm chế độ một vợ không chỉ gây hậu quả pháp lý mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội:
+/ Gia đình tan vỡ, con cái chịu nhiều tổn thương tinh thần.
+/ Gây mất niềm tin vào hôn nhân, ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội.
+/ Là nguyên nhân phát sinh các vụ việc bạo lực gia đình, tranh chấp tài sản, ly hôn.
Ví dụ, trong nhiều vụ việc báo chí đưa tin, hậu quả không chỉ dừng lại ở việc người vi phạm bị xử lý, mà còn kéo theo sự suy sụp tinh thần của con cái, ảnh hưởng đến cả một thế hệ.
Với kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực tư vấn và giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình, tôi khẳng định rằng việc xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm chế độ một vợ là cần thiết. Không chỉ nhằm bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, mà còn nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội. Vì vậy, nếu:
+/ Hôn nhân không còn hạnh phúc, hãy thực hiện thủ tục ly hôn theo đúng quy định pháp luật thay vì lựa chọn sống chung với người khác;
+/ Người vợ hoặc chồng khi phát hiện hành vi vi phạm, cần mạnh dạn lên tiếng, làm đơn tố cáo gửi cơ quan có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và con cái.
Hành vi vi phạm chế độ một vợ không chỉ là vi phạm đạo đức mà còn là hành vi vi phạm pháp luật, bị xử lý từ mức phạt hành chính đến trách nhiệm hình sự. Đây là bài học cảnh tỉnh cho bất kỳ ai đang hoặc có ý định vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
Trên đây là một số nội dung cơ bản của pháp luật về chế tài xử lí đối với hành vi “Vi phạm chế độ một vợ”, để tìm hiểu thêm các nội dung khác có liên quan đến pháp luật “Hôn nhân và gia đình” đề nghị Quý khác hàng tham khảo các bài viết khác tại đây.
Block "ket-bai-viet" not found


