“Thỏa thuận thi hành án” (TTTHA) là sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự (người được thi hành án và người phải thi hành án), nhằm thống nhất cách thức hoặc thời hạn thi hành một phần hay toàn bộ nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực. Pháp luật Việt Nam đề cao nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa các bên, miễn sao không vi phạm điều cấm hay đạo đức xã hội. Cụ thể, Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, và “kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận”.
Như vậy, khi hai bên đạt được thỏa thuận thỏa đáng, cơ quan thi hành án sẽ ghi nhận kết quả thực tế theo thỏa thuận đó thay vì áp dụng biện pháp cưỡng chế. Theo đánh giá của chuyên gia, TTTHA là “giải pháp cần được ưu tiên”, vì nó vừa bảo đảm quyền tự chủ của các bên, vừa giúp “thi hành án hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí” cho cả hai bên và cơ quan thi hành án.
Điều kiện và hình thức thỏa thuận thi hành án
Mặc dù pháp luật cho phép các bên tự thỏa thuận, nhưng để một TTTHA có hiệu lực thì nhất thiết phải đáp ứng những điều kiện quy định. Theo Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 33/2020), bất cứ TTTHA nào cũng phải được lập thành văn bản, thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện và hậu quả pháp lý nếu không thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Văn bản này phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia. Cụ thể điều luật quy định như sau:
“1. Trường hợp đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án thì thỏa thuận đó phải lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận.
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
2. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự TTTHA. Thỏa thuận phải bằng văn bản thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia. Đương sự phải chịu trách nhiệm về nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án.
Trường hợp các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ nội dung quyết định thi hành án và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này..
3. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án mà đương sự thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với nội dung thỏa thuận đó theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp đương sự thỏa thuận đình chỉ thi hành án sau thời điểm tài sản đã được bán đấu giá thành hoặc đã bán cho đồng sở hữu hoặc người được thi hành án đã đồng ý nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án mà chưa giao được tài sản cho họ thì việc thỏa thuận phải được sự đồng ý của người trúng đấu giá, người mua tài sản hoặc người nhận tài sản.
Sau khi có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, đương sự không có quyền yêu cầu thi hành án trở lại đối với nội dung đã đình chỉ thi hành.
4. Khi đương sự có yêu cầu, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận trong trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 của Điều này. Việc chứng kiến thỏa thuận phải được thực hiện tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp phát hiện thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án thì Chấp hành viên từ chối chứng kiến thỏa thuận nhưng phải nêu rõ lý do từ chối vào biên bản thỏa thuận.”
Người yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến việc TTTHA ngoài trụ sở cơ quan thi hành án dân sự mà phát sinh chi phí thì phải thanh toán các chi phí hợp lý cho cơ quan thi hành án dân sự.
Lợi ích của việc thi hành án theo thỏa thuận.
Khi TTTHA được lập thành văn bản hợp pháp, TTTHA mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Trước hết, nó giúp đương sự chủ động định đoạt các điều khoản thi hành án phù hợp với khả năng của mỗi bên. Ví dụ, người phải thi hành án khó trả một lần có thể đề nghị trả góp, người được thi hành án chủ động kéo dài thêm thời gian, miễn là có thỏa thuận ràng buộc bằng văn bản. Nhờ đó, các bên có thể giảm thiểu xung đột và rủi ro phát sinh trong quá trình cưỡng chế.
Hơn nữa, TTTHA đúng quy định giúp rút ngắn quy trình thi hành án. Thực tế cho thấy, đối với các vụ án dân sự phức tạp, việc các bên tự thống nhất được cách thức thi hành án sẽ hạn chế việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế như kê biên, định giá tài sản, bán đấu giá ….vv. Chấp hành viên chỉ cần xác minh việc thi hành theo nội dung thỏa thuận rồi kết thúc vụ việc. Theo đánh giá của chuyên gia pháp lý, TTTHA là “biện pháp thi hành án hiệu quả, tiết kiệm được thời gian và chi phí nhất cho cả hai bên cũng như cho cơ quan thi hành án”.
Ví dụ: Vụ tranh chấp tài sản giữa ông A và bà L là minh chứng điển hình. Tòa án buộc ông A trả bà L 200 triệu đồng. Thay vì bị áp dụng các biện pháp tiến hành cưỡng chế, ông A đề nghị trả dần trong 4 tháng, mỗi lần 50 triệu đồng. Bà L đồng ý và dưới sự chứng kiến của chấp hành viên, cả hai ký văn bản thỏa thuận về việc THA. Nhờ vậy, các bên đã thi hành án thành công mà không mất thời gian tổ chức bán đấu giá hay áp dụng biện pháp cưỡng chế khác. Trường hợp này cho thấy, việc lập văn bản thỏa thuận ngay từ đầu giúp THA nhanh chóng kết thúc, người được thi hành án thu hồi đủ số tiền, còn người phải thi hành án có điều kiện thực hiện nghĩa vụ phù hợp khả năng điều kiện của mình.
Rủi ro khi tin vào thỏa thuận miệng
Mặc dù TTTHA mang lại lợi ích, việc tin tưởng vào thỏa thuận miệng mà không lập văn bản tiềm ẩn rất nhiều rủi ro pháp lý cho các bên. Trước hết, như đã nêu, pháp luật yêu cầu bất kỳ thỏa thuận nào cũng phải được lập thành văn bản và có chữ ký của các bên. Khi không tuân thủ điều kiện này, thỏa thuận miệng sẽ không có giá trị pháp lý. Điều này đồng nghĩa với việc nếu một bên không thực hiện, bên còn lại không thể dựa vào thỏa thuận để yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thực hiện phần nghĩa vụ chưa hoàn thành.
Hậu quả trực tiếp là người được/ người phải thi hành án không có cơ sở pháp lý để khởi động lại thủ tục thi hành theo thỏa thuận. Trong khoảng thời gian đợi chờ thỏa thuận miệng, thời hiệu thi hành án có thể bị ảnh hưởng. Căn cứ Luật Thi hành án dân sự, nếu người được thi hành án không yêu cầu thi hành án trong 5 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực, quyền TTTHA coi như chấm dứt. Do đó, chậm trễ và thiếu văn bản ràng buộc dễ dẫn đến mất luôn thời hiệu yêu cầu THA.
Một rủi ro khác là việc tin tưởng thỏa thuận miệng dễ gây ra tranh cãi sau này. Khi chỉ có những lời hứa mà không có bằng chứng, người được thi hành án có thể thẳng thừng phủ nhận việc đã thỏa thuận hoặc viện lý do “không nhớ rõ” nội dung. Lúc này, người phải thi hành án sẽ đối mặt với rất nhiều khó khăn chứng minh.
Ví dụ: Một vụ thi hành án thực tế xảy ra tại Hà Nội như sau: Ông Nguyễn Văn A là người phải thi hành án nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyễn Thị H số tiền là 1,9 tỷ đồng. Trong thời hạn tự nguyện thi hành án hai bên đã thỏa thuận miệng hàng tháng ông A trả cho bà H số tiền là 100 triệu đồng đến khi hết số nợ. Sau 03 tháng bà H thay đổi ý kiến và yêu cầu cơ quan THA buộc ông A thanh toán 1 lần toàn bộ số tiền nợ theo bản án. Vì không còn tài sản nào khác nên ông A đã bị kê biên và bán đấu giá nhà đất là tài sản duy nhất của mình đi để tra nợ.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng để tránh rủi ro, các bên phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định lập văn bản thỏa thuận khi thỏa thuận về việc điều chỉnh cách thức thi hành án. Cụ thể, ngay khi có thỏa thuận miệng, nên yêu cầu lập biên bản thỏa thuận tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự hoặc ít nhất có chữ ký của chấp hành viên. Văn bản cần nêu rõ chi tiết các điều khoản cam kết và hậu quả pháp lý nếu một bên vi phạm, nhằm đảm bảo nội dung có căn cứ thi hành khi cần thiết.
Trong trường hợp hai bên thỏa thuận về phương thức thi hành án, người được thi hành án cần lưu giữ mọi chứng cứ liên quan như biên bản làm việc, tin nhắn hoặc thư từ điện tử xác nhận thỏa thuận. Bất kể kết quả là thành lập biên bản chính thức hay chưa, các chứng cứ này hỗ trợ việc chứng minh ý chí của các bên trong trường hợp tranh chấp xảy ra.
Hơn nữa, tốt nhất là khởi động thủ tục thi hành án song song với việc thỏa thuận: có nghĩa là, người được thi hành án vẫn nộp hồ sơ yêu cầu thi hành án ngay sau khi bản án có hiệu lực. Cách làm này vừa giữ quyền yêu cầu cưỡng chế (tránh mất thời hiệu), vừa cho phép đàm phán thỏa thuận song song.
Bên cạnh đó, người được thi hành án nên nhờ đến sự tư vấn và hỗ trợ của luật sư hoặc chuyên gia pháp lý. Qua kinh nghiệm xử lý các vụ thi hành án dân sự phức tạp, chúng tôi khuyến cáo người được THA cần tuyệt đối tránh tin tưởng mù quáng vào thỏa thuận miệng. Nếu bên đối tác ngỏ ý, phải yêu cầu lập văn bản ngay tại chỗ và quy định rõ trách nhiệm pháp lý của từng bên. Trong trường hợp điều kiện cho phép, văn bản thỏa thuận còn có thể được công chứng hoặc chứng thực để đảm bảo tính chặt chẽ.
Trên đây là một số vấn đề có liên quan đến “Thỏa thuận thi hành án” theo quy định của Luật thi hành án năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014, để tham khảo các nội dung có liên quan đến THA, Quý khách vui lòng tham khảo các bài viết khác Tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
- VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
- Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
- Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879 – Zalo: Luật Duy Hưng - Email: luatduyhung@gmail.com
- Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
- Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"


