Thiếu chứng cứ buộc tội: Có được đình chỉ điều tra không?

luбє­t duy hЖ°ng

Thiếu chứng cứ buộc tội là căn cứ pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng đình chỉ điều tra vụ án hình sự nhằm bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội. Việc đình chỉ trong trường hợp này góp phần phòng ngừa oan sai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, chứng cứ buộc tội giữ vai trò then chốt để xác định người thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, không ít trường hợp sau thời gian điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng không thu thập được đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm. Vậy thiếu chứng cứ buộc tội có được đình chỉ điều tra không? Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể theo quy định pháp luật hiện hành.

Chứng cứ buộc tội là gì?

Theo Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn sau:

+/ Vật chứng;

+/ Lời khai, lời trình bày;

+/ Dữ liệu điện tử;

+/ Kết luận giám định, định giá tài sản;

+/ Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;

+/ Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;

+/ Các tài liệu, đồ vật khác.

Nếu không có hoặc không đủ chứng cứ buộc tội, việc truy tố là không có căn cứ pháp luật.

Thiếu chứng cứ buộc tội Có được đình chỉ điều tra không

Thiếu chứng cứ buộc tội có được đình chỉ điều tra không?

Thiếu chứng cứ buộc tội là căn cứ trực tiếp để đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo quy định của pháp luật. Việc đình chỉ trong trường hợp này không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ bắt buộc của cơ quan tiến hành tố tụng khi không chứng minh được hành vi phạm tội. Cụ thể:

– Theo khoản 2 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):, cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp luật định, trong đó có trường hợp: “Không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm”. Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc: chứng cứ là điều kiện tiên quyết để buộc tội. Nếu quá trình điều tra không thu thập được chứng cứ hợp pháp, đầy đủ và có giá trị chứng minh tội phạm thì việc tiếp tục điều tra hoặc truy tố là không đúng quy định pháp luật.

Nguyên tắc suy đoán vô tội và trách nhiệm chứng minh.

Theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Theo đó:

+/ Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng;

+/ Người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội.

Như vậy, khi thiếu chứng cứ buộc tội, cơ quan điều tra không được kéo dài việc điều tra, càng không được suy đoán bất lợi cho bị can.

Kết luận:

Thiếu chứng cứ buộc tội là căn cứ pháp lý để đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi cơ quan tiến hành tố tụng không thu thập được chứng cứ hợp pháp, đầy đủ để chứng minh hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó, việc tiếp tục điều tra, truy tố là không có căn cứ và trái với nguyên tắc suy đoán vô tội.

Đình chỉ điều tra trong trường hợp thiếu chứng cứ không phải là bỏ lọt tội phạm, mà là biện pháp cần thiết nhằm phòng ngừa oan sai, bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Quyết định đình chỉ còn là cơ sở để hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, khôi phục quyền lợi hợp pháp cho người bị điều tra và bảo đảm tính khách quan của hoạt động tố tụng hình sự.

Tuy nhiên, trong trường hợp sau này xuất hiện chứng cứ mới có giá trị chứng minh và được thu thập hợp pháp, vụ án vẫn có thể được phục hồi điều tra theo đúng quy định. Do đó, chỉ khi có đủ chứng cứ rõ ràng, thuyết phục thì mới có thể buộc tội, còn khi thiếu chứng cứ buộc tội, đình chỉ điều tra là yêu cầu tất yếu của pháp luật.


Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực hình sự, Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.

  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879