Khi người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không có hiệu lực, việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, không phải ai cũng được hưởng di sản và cũng không phải mọi trường hợp đều được chia theo tỷ lệ giống nhau. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rõ nguyên tắc chia di sản theo pháp luật nhằm đảm bảo sự công bằng, minh bạch và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người thừa kế.
Vậy việc chia di sản theo pháp luật được thực hiện theo những nguyên tắc nào? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây.
Chia di sản theo pháp luật là gì?
Theo Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015, thừa kế theo pháp luật là việc chuyển dịch di sản của người chết cho những người thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định. Việc áp dụng hình thức thừa kế này thường xảy ra khi người chết không để lại di chúc hoặc thuộc các trường hợp quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Các nguyên tắc chia di sản theo pháp luật
Thứ nhất: Chia theo thứ tự hàng thừa kế
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất khi chia di sản theo pháp luật.
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế được xác định theo ba hàng thừa kế:
Hàng thừa kế thứ nhất, gồm:
– Vợ hoặc chồng;
– Cha đẻ, mẹ đẻ;
– Cha nuôi, mẹ nuôi;
– Con đẻ, con nuôi của người chết.
Hàng thừa kế thứ hai, gồm:
– Ông nội, bà nội;
– Ông ngoại, bà ngoại;
– Anh ruột, chị ruột, em ruột;
– Cháu ruột mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại hoặc bà ngoại.
Hàng thừa kế thứ ba, gồm:
– Cụ nội, cụ ngoại;
– Bác, chú, cậu, cô, dì ruột;
– Cháu ruột mà người chết là bác, chú, cậu, cô hoặc dì;
– Chắt ruột của người chết.
Thứ hai: Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau
Nguyên tắc cơ bản của thừa kế theo pháp luật là mọi người trong cùng một hàng thừa kế đều có quyền hưởng phần di sản ngang nhau, nếu không có căn cứ làm phát sinh việc giảm hoặc mất quyền hưởng di sản.
Ví dụ:
Ông A mất, để lại tài sản trị giá 3 tỷ đồng. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm:
– Vợ;
– Hai người con.
Trong trường hợp này, mỗi người sẽ được hưởng 1 tỷ đồng nếu không có thỏa thuận khác hoặc không phát sinh nghĩa vụ tài sản của người chết.
Thứ ba: Hàng thừa kế sau chỉ được hưởng khi không còn ai ở hàng thừa kế trước
Những người ở hàng thừa kế thứ hai hoặc thứ ba không đương nhiên được nhận di sản.
Họ chỉ được hưởng khi hàng thừa kế trước không còn ai thuộc một trong các trường hợp:
– Đã chết;
– Không có quyền hưởng di sản;
– Bị truất quyền hưởng di sản;
– Từ chối nhận di sản hợp pháp.
Ví dụ:
Người chết còn vợ và hai người con thì cha mẹ, anh chị em ruột của người chết sẽ không được hưởng di sản theo pháp luật.
Thứ tư: Di sản phải được dùng để thanh toán nghĩa vụ tài sản trước khi chia
Không phải toàn bộ tài sản của người chết đều được chia ngay cho những người thừa kế.
Trước khi chia, di sản phải được sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ tài sản và các chi phí liên quan như:
– Chi phí mai táng;
– Các khoản cấp dưỡng còn thiếu;
– Chi phí bảo quản di sản;
– Thuế và các khoản phải nộp;
– Các khoản nợ;
– Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (nếu có).
Chỉ phần tài sản còn lại sau khi đã hoàn thành các nghĩa vụ này mới được đem chia cho những người thừa kế.
Thứ năm: Bảo đảm quyền thừa kế của thai nhi
Pháp luật đặc biệt bảo vệ quyền lợi của thai nhi.
Nếu tại thời điểm mở thừa kế có người thừa kế đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà một người thừa kế cùng hàng được hưởng.
Nếu đứa trẻ sinh ra còn sống thì được nhận phần di sản này; nếu chết trước khi sinh thì phần di sản được chia lại cho các đồng thừa kế khác.
Thứ 6: Ưu tiên chia bằng hiện vật nếu có thể
Khi phân chia di sản, những người thừa kế có quyền yêu cầu chia bằng hiện vật.
Nếu tài sản không thể chia đều bằng hiện vật thì các bên có thể:
– Thỏa thuận định giá tài sản;
– Thỏa thuận người nhận tài sản và thanh toán phần chênh lệch cho những người còn lại;
– Nếu không đạt được thỏa thuận thì tài sản có thể được bán để chia theo giá trị.
Thứ bảy: Tôn trọng sự thỏa thuận của những người thừa kế
Mặc dù pháp luật quy định nguyên tắc chia đều, nhưng những người thừa kế hoàn toàn có quyền thỏa thuận về:
– Tỷ lệ được hưởng;
– Người nhận hiện vật;
– Người nhận tiền;
– Việc nhường hoặc tặng phần di sản cho người khác.
Việc thỏa thuận phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện và không vi phạm quy định của pháp luật.
Một số lưu ý khi chia di sản theo pháp luật
Để việc phân chia di sản diễn ra đúng quy định, người thừa kế cần lưu ý:
– Xác định đầy đủ di sản thuộc quyền sở hữu của người chết.
– Làm rõ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản trước khi chia.
– Xác định chính xác hàng thừa kế.
– Kiểm tra có trường hợp thừa kế thế vị hay không.
– Thực hiện thủ tục khai nhận hoặc phân chia di sản tại tổ chức công chứng nếu các bên thống nhất; trường hợp phát sinh tranh chấp thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
Việc chia di sản theo pháp luật được thực hiện trên các nguyên tắc quan trọng như: chia theo hàng thừa kế, những người cùng hàng được hưởng phần bằng nhau, hàng thừa kế sau chỉ được hưởng khi không còn người ở hàng trước, thanh toán nghĩa vụ tài sản trước khi chia, bảo đảm quyền của thai nhi và ưu tiên sự thỏa thuận giữa các đồng thừa kế. Việc nắm rõ các nguyên tắc này sẽ giúp quá trình phân chia di sản diễn ra đúng quy định, hạn chế tranh chấp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực dân sự. Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.










