CHIA TÀI SẢN LÀ PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY TNHH KHI LY HÔN

luбєt duy hЖng

Phần vốn góp trong công ty có được coi là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn không? Nếu có thì được chia như thế nào?

Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là một trong những tranh chấp thường gặp và phức tạp khi giải quyết ly hôn của vợ chồng. Trong đó, việc xử lý tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp trong doanh nghiệp khi ly hôn hiện nay xảy ra tương đối phổ biến và là câu hỏi được nhiều người muốn biết câu trả lời. Bài viết dưới đây của Luật Duy Hưng sẽ giải đáp thông tin bạn đọc cần biết.

Trước khi biết quy định của pháp luật về vấn đề nêu trên như thế nào, cần làm rõ một số vấn đề sau:

1. Phần vốn góp trong công ty TNHH có được coi là tài sản không?

Phần vốn góp trong công ty TNHH được hiểu là tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty. Sau khi đã góp vốn vào công ty theo cam kết, thành viên sẽ được cấp Giấy chứng nhận vốn góp nhằm xác nhận đã góp đủ số vốn cam kết và cũng là cơ sở xác nhận tư cách thành viên công ty tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đồng thời cũng là cơ sở để họ thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với phần vốn góp.

Theo quy định tại Điều 105, Bộ luật Dân sự 2015 “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.

Theo đó, phần vốn góp trong công ty TNHH được coi là quyền tài sản có nghĩa là tài sản vô hình nhưng được trị giá bằng tiền.

Phần vốn góp không được coi là bất động sản vì không gắn liền với đất đai (theo quy định tại Điều 107 Bộ luật dân sự 2015). Như vậy các thành viên có các quyền đối với phần vốn góp như các quyền đối với động sản khác như: để lại thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp hay định đoạt dưới hình thức khác phần vốn góp cũng như những quyền phát sinh từ phần vốn góp đó.

2. Chia tài sản chung là phần vốn góp trong công ty TNHH khi vợ chồng ly hôn

Theo phân tích tại mục 1 nêu trên thì phần vốn góp trong công ty TNHH là tài sản nên khi xác định là tài sản chung của vợ chồng thì khi ly hôn thì phần vốn góp này hoàn toàn có thể phân chia bình thường theo các nguyên tắc phân chia tài sản là động sản.

Theo đó, việc phân chia tài sản là phần vốn góp vợ chồng đều có quyền lựa chọn sẽ tự thoả thuận với nhau. Tuy nhiên, nếu không thoả thuận được thì có thể yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết.

chia tài sản chung là phần vốn góp trong công ty TNHH khi ly hôn

Khi chia tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc chia đôi, tuy nhiên có dựa theo các yếu tố như hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, bảo vệ lợi ích chính đáng mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh nghề nghiệp, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền và nghĩa vụ vợ chồng.

Khi phân chia tài sản chung là phần vốn góp trong công ty TNHH thì Toà án cũng xem xét đến công sức đóng góp, tạo dựng, duy trì và phát triển khối tài sản chung đó và cả việc có đảm bảo quyền lợi ích chính đáng mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh nghề nghiệp.

Trường hợp vợ chồng mở công ty nhưng người chồng hoặc vợ mới là người tham gia điều hành, quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty. Nhưng vì tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của vợ chồng, do đó mới xét đến công sức đóng góp và nghề nghiệp của mỗi bên.

Vì vậy, khi chia tài sản chung là phần vốn góp trong trường hợp này người còn lại không tham gia vào việc kinh doanh, thì bên tham gia có thể sẽ được phân định là nhận toàn bộ phần vốn góp trên. Thay vào đó, phần vốn góp được nhận sẽ được quy đổi thành tiền và thanh toán cho bên còn lại phần chênh lệch.

Trường hợp cả hai vợ chồng đều có công sức đóng góp vào việc điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh của công ty. Do đó, để phân chia hợp lý, bên này sẽ tặng cho phần vốn góp cho bên kia hoặc ngược lại.

Ví dụ: Công ty TNHH 2 thành viên được thành lập sau khi chị A và anh B kết hôn. Anh B – người đại diện theo pháp luật cùng một người là C tham gia góp vốn thành lập công ty trên. Chị A là Giám đốc của công ty nhưng không là thành viên của công ty. Cả hai vợ chồng đều tham gia quản lý, điều hành công ty. Cho nên xét đến nghề nghiệp, công sức đóng góp, thì Toà án có thể yêu cầu anh B là thành viên góp vốn tặng cho một phần vốn góp cho chị A để chị A cũng là thành viên của công ty, sở hữu phần vốn góp. Nhằm tạo điều kiện cho chị A tiếp tục công việc của mình.

———————————————————————

Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến vấn đề hôn nhân và gia đình. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây. Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các cách thức sau để được tư vấn trực tiếp.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900633296.

Facebook: https://www.facebook.com/LuatsuDuyHung/

Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879