CÁC CÔNG VIỆC TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

luбє­t duy hЖ°ng

Thực hiện đầy đủ các công việc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hành chính giúp đảm bảo tối đa quyền lợi của các đương sự trong vụ án hành chính cũng như đảm bảo hoạt động chuẩn bị xét xử vụ án hành chính được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hành chính, các cơ quan có thẩm quyền sẽ có những công việc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hành chính nào cần phải thực hiện. Việc thực hiện đầy đủ các công việc trong giai đoạn này giúp đảm bảo tối đa quyền lợi của các đương sự trong vụ án hành chính cũng như đảm bảo giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hành chính được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án sẽ phải thực hiện những công việc cụ thể nào. Sau đây, Luật Duy Hưng xin gửi đến bạn đọc lời giải đáp như sau:

1. Lập hồ sơ vụ án; yêu cầu nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ và các loại giấy tờ có liên quan; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ.

Căn cứ Điều 132 Luật TTHC 2015, lập hồ sơ vụ án hành chính

– Hồ sơ vụ án hành chính gồm đơn và tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án hành chính.

– Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án hành chính phải được đánh số bút lục, sắp xếp thứ tự ngày, tháng, năm và phải được lưu giữ, quản  lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.-

Căn cứ Điều 133 Giao nộp tài liệu, chứng cứ quy định:

– Thời hạn nộp tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 83 Luật này;

– Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp trước đó thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự phải giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm.

Ngoài ra:

– Nếu tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa đảm bảo đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.

– Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ của đương sự cho Tòa án phải được lập thành biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của tài liệu, chứng cứ, số bản, số trang của tài liệu, chứng cứ và thời gian nhận, chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Tòa án. Biên bản phải lập thành 02 bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ án hành chính và một bản giao cho đương sự nộp tài liệu, chứng cứ giữ.

Trong trường hợp: Đương sự không thể tự mình thu thập được tài liệu, chứng cứ và có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết

– Tòa án có thể tự mình hoặc ủy thác tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ các tình tiết vụ án.

2. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trong quá trình Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hành chính có thể xảy ra các hậu quả nghiêm trọng không thể khắc [phục được hoặc chứng cứ, hiện trạng không được bảo vệ hoặc yêu cầu cấp bách của đương sự không được đảm bảo, cho nên Tòa án phải cân nhắc để ban hành các quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể xem xét và quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời:

– Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

– Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính

– Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi hành chính nhất định

CÔNG VIỆC TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

3. Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại

a. Đối thoại

“Đối thoại trong tố tụng hành chính” là việc các đương sự trao đổi trực tiếp với nhau để hiểu biết, bàn bạc, thương lượng về các vấn đề đang tranh chấp dưới sự tổ chức của Tòa án.

Đối thoại trong tố tụng hành chính cần tuân thủ các nguyên tắc tại Điều 34 Luật TTHC 2015:

– Bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự

– Không được ép buộc các đương sự thực hiện việc giải quyết vụ án hành chính trái với ý chí của họ

– Nội dung đối thoại, kết quả đối thoại thành giữa các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

(Tham khảo thêm các vấn đề liên quan về “Đối thoại trong tố tụng hành chính” Tại đây.)

b. Tổ chức phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại trong tố tụng hành chính.

Đây là phiên họp công khai các vấn đề liên quan đến chứng cứ và tổ chức đối thoại cho các bên.  Phiên họp có thủ tục như sau:

– Thẩm phán thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.

– Thành phần phiên họp gồm: Thẩm phán chủ trì phiên họp, Thư ký phiên họp ghi biên bản; Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự. Ngoài ra có thể có thêm Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; người phiên dịch; trường hợp cần thiết, Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia phiên họp.

– Trường hợp “Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt” tại khoản 3 Điều 137 nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt, nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên họp để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp và thông báo bằng văn bản việc hoãn, mở lại phiên họp cho các đương sự”

4. Xử lý kết quả đối thoại

Tòa án sử dụng kết quả đối thoại theo từng trường hợp xảy ra khi kết thúc đối thoại. Căn cứ Điều 140 Luật TTHC quy định:

– Trường hợp thứ nhất: Qua đối thoại mà người khởi kiện vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, người bị kiện giữ nguyên quyết định, hành vi bị khởi kiện, người có quyền lợi, nvu liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ nguyên yêu cầu thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án.

– Trường hợp thứ hai: Qua đối thoại người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện thì Thẩm phán phải lập biên bản về việc người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyets vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện. Sau đó, người khởi kiện nếu suy xét lại vẫn được quyền khởi kiện lại vụ án nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

– Trường hợp thứ ba: Qua đối thoại mà người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện thì Tòa án lập biên bản về việc cam kết  của đương sự. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện. Hết thời hạn này mà một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án .

Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biệt. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì quyết định của Tòa án có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

5. Ra các quyết định

Để kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án phải ban hành các quyết định để thể hiện việc giải quyết vụ án hành chính. Các quyết định hành chính có thể được Tòa án ban hành là:

– Tạm đình chỉ giải quyết vụ án: là việc Thẩm phán được giao giải quyết vụ án ra quyết định tạm thời dừng giải quyết vụ án vì có những lý do nhất định làm cho vụ án không thể giải quyết được, khi những lý do đó không còn nữa thì tiếp tục giải quyết vụ án.

– Đình chỉ giải quyết vụ án: là việc Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi có một trong các căn cứ đình chỉ theo quy định của pháp luật

– Quyết định đưa vụ án ra xét xử: khi không có căn cứ để tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án hành chính và có đầy đủ các yêu cầu cho việc mở rộng một phiên tòa xét xử vụ án thì Tòa án phải ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.


Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến hành chính. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây.

Quý khách cần tìm hiểu thêm các vấn đề có liên quan đến dịch vụ Luật sư chuyên Hành chính đề nghị tham khảo Tại đây.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879