Đình chỉ điều tra là gì? Đình chỉ điều tra theo quy định pháp luật

luбє­t duy hЖ°ng

Đình chỉ điều tra là việc chấm dứt hoạt động điều tra khi không còn căn cứ pháp lý để tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự, nhằm bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền con người. Quy định này góp phần ngăn ngừa oan sai, kiểm soát quyền lực tố tụng và bảo đảm việc giải quyết vụ án hình sự đúng pháp luật.

Đình chỉ điều tra là gì?

Đình chỉ điều tra là việc Cơ quan điều tra ra quyết định chấm dứt việc điều tra vụ án hình sự hoặc đối với bị can khi trong quá trình điều tra phát hiện không còn căn cứ pháp lý để tiếp tục điều tra theo quy định của pháp luật.

Thẩm quyền quyết định đình chỉ điều tra

– Căn cứ Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra 

– Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định không có căn cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố theo thời hạn, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật này.

Căn cứ đình chỉ điều tra theo quy định pháp luật

Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

(1) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên; cụ thể:

– Vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp đã rút yêu cầu, trừ trường hợp việc rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức;

– Thuộc một trong các trường hợp phải đình chỉ vụ án theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự, bao gồm:

+/ Không có sự việc phạm tội;

+/ Hành vi không cấu thành tội phạm;

+/ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

+/ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

+/ Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

+/ Tội phạm đã được đại xá;

+/ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

+/ Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố. 

– Thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự khi người phạm tội có đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước;

– Người chưa thành niên thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên, không tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự.

(2) Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

Đình chỉ điều tra theo quy định pháp luật

Nội dung của quyết định đình chỉ

Căn cứ khoản 2 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và những vấn đề khác có liên quan.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

Đình chỉ điều tra là một chế định quan trọng trong tố tụng hình sự, thể hiện rõ nguyên tắc thượng tôn pháp luật, suy đoán vô tội và bảo đảm quyền con người. Việc Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ không chỉ nhằm chấm dứt hoạt động điều tra khi không còn căn cứ pháp lý mà còn góp phần ngăn ngừa việc truy cứu trách nhiệm hình sự oan sai, tránh kéo dài các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Thông qua việc quy định cụ thể về căn cứ, thẩm quyền, trình tự và nội dung của quyết định đình chỉ, pháp luật tố tụng hình sự đã thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bảo đảm việc áp dụng pháp luật được khách quan, minh bạch và đúng người, đúng tội, đúng căn cứ. Đối với người tham gia tố tụng, việc hiểu rõ quy định về đình chỉ  không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình mà còn là cơ sở để giám sát, khiếu nại, tố cáo các quyết định tố tụng trái pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả và tính công bằng của hoạt động tư pháp hình sự.


Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực hình sự, Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879