ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI LUẬT

luбє­t duy hЖ°ng

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là quyền của cả người lao động và người sử dụng lao động, nhưng phải tuân theo các quy định của pháp luật để đảm bảo tính hợp pháp và quyền lợi của các bên. Người lao động có quyền nghỉ việc mà không cần lý do nếu báo trước đúng thời hạn theo luật định, trừ một số trường hợp đặc biệt. Trong khi đó, người sử dụng lao động chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp cụ thể như người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc, vi phạm kỷ luật nghiêm trọng hoặc do thay đổi cơ cấu tổ chức. Việc chấm dứt hợp đồng không đúng quy định pháp luật có thể dẫn đến tranh chấp lao động và trách nhiệm bồi thường. Vì vậy, cả hai bên cần hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình để đảm bảo quá trình chấm dứt hợp đồng diễn ra đúng luật và công bằng.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là việc một bên trong quan hệ lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (ĐPCDHĐLĐ) không đúng theo quy định của pháp luật về lao động. Vậy bên ĐPCDHĐLĐ trái luật phải chịu trách nhiệm, nghĩa vụ gì???

Sau đây, Luật Duy Hưng xin trình bày các quy định của pháp luật về hậu quả mà bên ĐPCDHĐLĐ trái luật phải gánh chịu để bạn đọc tham khảo.

HẬU QUẢ VIỆC ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI LUẬT

Hành vi ĐPCDHĐLĐ trái pháp luật có thể do người sử dụng lao động thực hiện hoặc cũng có thể do người lao động thực hiện. Và pháp luật lao động hiện nay quy định hậu quả mà các chủ thể này phải gánh chịu là khác nhau. Cụ thể như sau:

Luat-su-lao-dong

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động.

Căn cứ theo quy định tại Điều 42 BLLĐ 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì người sử dụng lao động phải gánh chịu những hậu quả sau nếu ĐPCDHĐLĐ trái pháp luật.

– Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

– Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định nêu trên người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của BLLĐ năm 2012.

– Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường nêu trên và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của BLLĐ 2012, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

– Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường theo quy định, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

– Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Nghĩa vụ của người lao động.

Căn cứ theo quy định tại Điều 43 BLLĐ 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì người lao động phải gánh chịu những hậu quả sau nếu ĐPCDHĐLĐ trái pháp luật.

– Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

– Nếu vi phạm quy định thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

– Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật.Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài..

Lưu ý: Tiền lương làm căn cứ bồi thường khi ĐPCDHĐLĐ trái pháp luật là tiền lương theo hợp đồng lao động tại thời điểm người sử dụng lao động hoặc người lao động ĐPCDHĐLĐ trái pháp luật.


Trên đây là các quy định của pháp luật về hậu quả mà bên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải gánh chịu. Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề có liên quan tranh chấp lao động hãy tham khảo các bài viết khác tại website: http://luatduyhung.com.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879