Quyền tác giả là gì?
Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009,2019), quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Trong đó, đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
(Khoản 1 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009,2019)
Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Trí tuệ nhân tạo là gì?
Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là một lĩnh vực trong khoa học máy tính, nghiên cứu và phát triển các hệ thống có khả năng thực hiện các nhiệm vụ mà thường cần đến trí thông minh của con người. Điều này bao gồm khả năng học hỏi, lý luận, lập kế hoạch, nhận diện giọng nói, hình ảnh, và tương tác với con người. TTNT có thể được chia thành nhiều loại, từ hệ thống đơn giản như chatbot đến các mô hình phức tạp như học sâu (deep learning) và học máy (machine learning). Mục tiêu cuối cùng của TTNT là tạo ra những máy móc hoặc phần mềm có thể tự động hóa các nhiệm vụ và cải thiện hiệu suất công việc.
Các tác phẩm được hình thành bởi trí tuệ nhân tạo là gì?
Có nhiều loại tác phẩm được hình thành bởi trí tuệ nhân tạo (TTNT), bao gồm:
1. Nghệ thuật thị giác: Các bức tranh, hình ảnh hoặc video được tạo ra bằng cách sử dụng thuật toán học sâu, như GAN (Generative Adversarial Networks). Ví dụ, các tác phẩm nghệ thuật của AI như “Edmond de Belamy”.
2. Âm nhạc: AI có thể sáng tác nhạc bằng cách phân tích các mẫu âm nhạc và tạo ra giai điệu mới. Dự án như AIVA (Artificial Intelligence Virtual Artist) là một ví dụ.
3. Văn học: Một số AI có khả năng viết văn, tạo ra thơ, truyện ngắn hoặc bài báo. Ví dụ, OpenAI đã phát triển các mô hình như GPT để tạo nội dung văn bản.
4. Phim và video: AI cũng có thể được sử dụng để tạo ra kịch bản hoặc thậm chí sản xuất video ngắn. Một số dự án đang thử nghiệm với việc sử dụng AI trong quá trình làm phim.
5. Thiết kế: Các công cụ AI có thể hỗ trợ trong việc tạo ra các thiết kế đồ họa, logo, và sản phẩm nội thất, tối ưu hóa quy trình sáng tạo.
6. Game: AI được sử dụng để phát triển các nhân vật, kịch bản và thế giới trong trò chơi điện tử, tạo ra trải nghiệm tương tác phong phú hơn.
Những tác phẩm này không chỉ cho thấy khả năng sáng tạo của AI mà còn mở ra nhiều câu hỏi về bản quyền, giá trị nghệ thuật và vai trò của con người trong sáng tạo.
Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
* Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả được quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009,2019), cụ thể như sau:
(1) Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
– Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
– Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
– Tác phẩm báo chí;
– Tác phẩm âm nhạc;
– Tác phẩm sân khấu;
– Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
– Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
– Tác phẩm nhiếp ảnh;
– Tác phẩm kiến trúc;
– Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
– Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
– Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
(2) Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại mục (1) nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
Các tác phẩm được bảo hộ quy định tại mục (1), (2) phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
* Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả
– Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin.
– Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.
– Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.
(Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009,2019)
Đối tượng có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
Cụ thể tại Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009,2019), tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả được quy định như sau:
(1) Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009,2019) cụ thể:
– Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả
– Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả
– Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả
– Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế
– Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền
– Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước
(2) Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại (1) bao gồm:
– Tổ chức, cá nhân Việt Nam;
– Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác;
– Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Vậy ai có quyền tác giả đối với tác phẩm do TTNT (AI) tạo ra???
Như vậy, quyền tác giả thường yêu cầu tác phẩm phải do con người tạo ra để được bảo vệ, nên việc xác định quyền tác giả đối với sản phẩm do AI tạo ra còn nhiều tranh cãi. Dưới đây là một số ý kiến, quan điểm hiện nay liên quan đến chủ đề này:
Luật pháp quốc tế và quy định hiện hành.
– Hầu hết các quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, không công nhận quyền tác giả cho các tác phẩm do AI tạo ra nếu không có sự can thiệp hoặc sáng tạo từ con người. Quy định này dựa trên cơ sở rằng quyền tác giả thường chỉ được cấp cho cá nhân hoặc tổ chức có vai trò sáng tạo hoặc đóng góp ý nghĩa vào tác phẩm.
Ví dụ, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, mà Việt Nam là thành viên, cũng không đề cập cụ thể đến AI. Quyền tác giả chỉ được trao cho các cá nhân là con người.
Vai trò của người sử dụng AI.
– Một số ý kiến cho rằng người sử dụng AI để tạo ra tác phẩm có thể được xem là tác giả nếu họ đóng vai trò điều khiển và định hướng quá trình sáng tạo. Quyền tác giả trong trường hợp này có thể thuộc về người lập trình, người sử dụng công cụ AI, hoặc tổ chức sở hữu hệ thống AI.
– Tuy nhiên, mức độ sáng tạo và kiểm soát của con người trong quá trình tạo ra sản phẩm từ AI cần phải rõ ràng. Nếu con người chỉ cung cấp các chỉ thị rất chung chung, quyền tác giả có thể không được công nhận.
Một số hệ thống pháp luật đã có quy định khác.
– Tại một số quốc gia như Anh Quốc, quyền tác giả có thể được trao cho người đã thực hiện những công đoạn tổ chức, quản lý việc tạo ra tác phẩm từ AI. Tuy nhiên, những quyền này không mạnh mẽ và bảo hộ như các quyền tác giả truyền thống.
– Ngược lại, tại Hoa Kỳ, cơ quan bản quyền (Copyright Office) đã tuyên bố rằng các tác phẩm hoàn toàn do AI tạo ra sẽ không được bảo hộ bản quyền. Quyền tác giả chỉ có thể được công nhận nếu có sự can thiệp của con người trong quá trình sáng tạo.
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Hiện không có quy định cụ thể về việc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra. Quyền tác giả ở Việt Nam chỉ được trao cho cá nhân hoặc tổ chức có sự sáng tạo trực tiếp vào quá trình tạo ra tác phẩm.
Theo quy định tại Điều 736 của Bộ luật Dân sự 2015, quyền tác giả phải do cá nhân tạo ra thông qua các hoạt động sáng tạo. Do đó, một sản phẩm thuần túy do AI tạo ra có thể không đủ điều kiện để được bảo vệ quyền tác giả tại Việt Nam.
Xu hướng tương lai.
– Với sự phát triển nhanh chóng của AI, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đang xem xét các chính sách mới nhằm điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền tác giả của sản phẩm do AI tạo ra.
– Cần có sự thay đổi trong luật pháp để cân nhắc vai trò của AI và con người trong quá trình sáng tạo, đặc biệt là khi AI ngày càng có khả năng tạo ra các tác phẩm sáng tạo phức tạp mà ít sự can thiệp từ con người.
Từ những quy định nêu trên có thể kết luận: Theo quy định của pháp luật hiện hành, tác phẩm do AI tạo ra không làm phát sinh quyền tác giả của của bất kỳ chủ thể nào, do không đáp ứng được điều kiện bảo hộ. Do đó, cá nhân hoặc tổ chức muốn bảo vệ quyền lợi liên quan đến sản phẩm do AI tạo ra cần phải rõ ràng về vai trò của con người trong quá trình sáng tạo để được luật pháp công nhận.
Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.- VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
- Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
- Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879 – Zalo: Luật Duy Hưng - Email: luatduyhung@gmail.com
- Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
- Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"










