TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

luбє­t duy hЖ°ng

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi sử dụng thủ đoạn gian dối để khiến người khác tin tưởng và giao tài sản, gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho nạn nhân. Theo Bộ luật Hình sự Việt Nam (Điều 174), tội này có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc tù giam đến 20 năm tù, tùy mức độ nghiêm trọng. Các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: hành vi gian dối, mục đích chiếm đoạt tài sản, và hậu quả xảy ra. Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ, tội lừa đảo ngày càng tinh vi, đòi hỏi người dân nâng cao cảnh giác và cơ quan chức năng tăng cường biện pháp phòng ngừa, xử lý.

Gần đây có rất nhiều vụ án được cơ quan chức năng kết luận người phạm tội có tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vậy trong bài viết ngày hôm nay hãy cùng Luật Duy Hưng tìm hiểu quy định pháp luật về tội danh này nhé.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng dùng thủ đoạn gian dối để người khác tin tưởng giao tài sản cho người phạm tội.

Dấu hiệu pháp lý

Khách thể của tội phạm:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản bao gồm: vật, tiền.

Mặt khách quan của tội phạm:

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở việc người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên, khác với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Thông qua việc gian dối đó mà người có tài sản tin tưởng và tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu giá trị của tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng mỗi lần giá trị tài bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến d khoản 1 Điều luật này, đồng thời trong các hành vi lừa đảo đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, thì người đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này theo tổng giá trị tài sản của các lần chiếm đoạt.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp:

+/ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm .

+/ Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm .

+/ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội .

+/ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ .

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành một trong các hành vi nêu trên.

Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Hình phạt

Điều 174 quy định 04 khung hình phạt:

– Người phạm tội quy định tại khoản 1 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Người phạm tội quy định tại khoản 2 thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, áp dụng đối với các trường hợp phạm tội sau:

+/ Có tổ chức.

+/ Có tính chất chuyên nghiệp.

+/ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

+/ Tái phạm nguy hiểm.

+/ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức. Đây là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,… đã lợi dụng vị trí công tác (chức vụ, quyền hạn) của mình trong các cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc tuy không có chức vụ, quyền hạn,… nhưng đã lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức để lừa đảo tài sản của người khác.

+/ Dùng thủ đoạn xảo quyệt. Đây là trường hợp chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối tinh vi như­ giả danh một cơ quan, tổ chức nào đó không có thật để lừa đảo bằng cách giả mạo con dấu, giả mạo đăng ký, bố trí trụ sở làm việc giả để giao dịch, thuê tài sản để chiếm đoạt tài sản của người khác…

– Người phạm tội quy định tại Khoản 3 thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, áp dụng đối với các trường hợp phạm tội sau:

+/ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

+/ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

– Người phạm tội quy định tại khoản 4 thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, áp dụng đối với các trường hợp phạm tội sau:

+/ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

+/ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Hình phạt bổ sung: ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hậu quả xã hội

Tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có những hậu quả xã hội nghiêm trọng. Các hậu quả này không chỉ tác động đến nạn nhân mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng và xã hội nói chung. Cụ thể, hậu quả xã hội của tội danh này bao gồm:

Tạo ra sự bất an trong xã hội: Hành vi lừa đảo làm suy giảm niềm tin của người dân vào các giao dịch, quan hệ kinh tế, xã hội. Người dân có thể trở nên thận trọng hơn, thậm chí hoài nghi về các quan hệ xã hội.

Gây thiệt hại lớn về tài sản và vật chất: Nạn nhân của hành vi lừa đảo có thể bị mất một khoản tài sản lớn, gây thiệt hại về vật chất và tài chính, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ, thậm chí dẫn đến tình trạng phá sản hoặc khủng hoảng tài chính cá nhân.

Tác động xấu đến kinh tế: Các hành vi lừa đảo, nếu xảy ra trong quy mô lớn hoặc liên quan đến các tổ chức, doanh nghiệp, có thể gây xáo trộn và suy giảm hoạt động kinh tế. Điều này có thể dẫn đến thiệt hại về lợi nhuận, tình hình kinh doanh.

Làm giảm tính hợp tác trong xã hội: Khi người dân và doanh nghiệp cảm thấy không an toàn trong các giao dịch, họ có thể hạn chế sự hợp tác hoặc thậm chí ngừng hoạt động.

Gây ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức xã hội: Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vi phạm đạo đức và các giá trị văn hóa của xã hội, tạo ra một môi trường nơi mà sự trung thực và công bằng bị nghi ngờ. Điều này có thể dẫn đến sự suy giảm về mặt đạo đức trong cộng đồng và tạo ra cơ hội cho các hành vi trái pháp luật khác.


Trên đây, là bài viết giúp quý độc giả nắm bắt rõ quy định của pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Quý khách cần tìm hiểu thêm các vấn đề có liên quan đến dịch vụ Luật sư chuyên Hình sự đề nghị tham khảo Tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879