Tội sử dụng trái phép tài sản là hành vi của một người vì vụ lợi đã khai thác, sử dụng tài sản một cách trái phép tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa ….vv thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Tội sử dụng trái phép tài sản được quy định tại Điều 177 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
b) Tài sản là bảo vật quốc gia;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
Phạm tội sử dụng trái phép tài sản trị giá 1.500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Cấu thành tội phạm tội sử dụng trái phép tài sản.
Khách thể của tội phạm:
Tội sử dụng trái phép tài sản xâm phạm quyền sở hữu của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, cụ thể là quyền sử dụng. Đối tượng tác động của tội phạm là tài sản gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện ở hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác. Sử dụng tài sản được hiểu hành vi khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản của người khác một cách trái phép. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại; lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản.
Tuy nhiên hành vi sử dụng trái phép tài sản chỉ bị coi là phạm tội nếu tài sản bị sử dụng trái phép có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên.
Trường hợp tài sản có giá trị dưới 100.000.000 đồng thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
– Đã bị xử lý kỷ luật, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trường hợp, trước đó đã có lần thực hiện hành vi sử dụng trái phép tài sản và đã bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị kỷ luật hoặc chưa bị xử phạt hành chính nay tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
– Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm là trường hợp sau khi bị kết án về tội sử dụng trái phép tài sản, chưa được xoá án tích, nay lại thực hiện hành vi sử dụng trái phép tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên.
– Tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 219 và Điều 220 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học và có từ 100 năm tuổi trở lên; vật có giá trị lịch sử, văn hóa là tài sản không phải là di vật, cổ vật nhưng có giá trị lịch sử, văn hóa.
Các hành vi nêu trên chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép tài sản nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 219 và Điều 220 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội sử dụng trái phép tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội sử dụng trái phép tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích vụ lợi là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm này.
Hậu quả xã hội
Thiệt hại kinh tế: Gây ra mất mát tài sản, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh và tạo ra tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế.
Ảnh hưởng đến an ninh, trật tự công cộng: Đe dọa đến an ninh, trật tự, và gây ra sự bất ổn trong xã hội.
Tác động đến phát triển bền vững: Gây trở ngại cho việc xây dựng một xã hội và kinh tế ổn định và phát triển trong tương lai.
- VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
- Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
- Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879 – Zalo: Luật Duy Hưng - Email: luatduyhung@gmail.com
- Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
- Cam kết cung cấp dịch vụ "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"










