Vợ hoặc chồng chết, đất chung được chia như thế nào? là câu hỏi hiện nay được nhiều người quan tâm. Bài viết dưới đây, Luật Duy Hưng sẽ phân tích rõ nguyên tắc chia tài sản chung, cách xác định phần di sản, thứ tự người được hưởng thừa kế và thủ tục sang tên đất theo đúng căn cứ pháp luật hiện hành.
Căn cứ pháp lý
– Bộ luật dân sự 2015;
– Luật hôn nhân và gia đình 2014;
– Luật Đất đai 2024
Vợ hoặc chồng chết, đất chung được chia như thế nào?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cả hai vợ chồng, hoặc đất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân do vợ chồng cùng tạo lập, được xác định là tài sản chung của vợ chồng.
Cần phân biệt với tài sản riêng theo Điều 43 của Luật này (đất có trước hôn nhân, đất được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc đã có thỏa thuận chia riêng trong thời kỳ hôn nhân). Việc xác định đúng đây là tài sản chung hay tài sản riêng là bước đầu tiên và quan trọng nhất, vì nó quyết định toàn bộ cách chia sau này.
Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, việc giải quyết tài sản chung được thực hiện theo Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể:
– Người còn sống có trách nhiệm quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp di chúc chỉ định người khác quản lý hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác.
– Khi có yêu cầu chia di sản, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng đã có thỏa thuận về chế độ tài sản (theo chế độ tài sản theo thỏa thuận quy định tại Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
– Phần tài sản của người đã mất trong khối tài sản chung sau khi chia đôi sẽ trở thành di sản thừa kế, được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Nói cách khác, nếu thửa đất là tài sản chung, một nửa giá trị quyền sử dụng đất đương nhiên thuộc về người vợ/chồng còn sống với tư cách là phần tài sản của chính họ (không phải phần được thừa kế); nửa còn lại là di sản của người đã mất và mới là phần được đem ra chia thừa kế cho những người thừa kế hợp pháp.
Xác định phần di sản thừa kế của vợ hoặc chồng chết
Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người còn sống (Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, kết hợp Điều 66 nêu trên). Đối với đất đứng tên chung, phần di sản để chia thừa kế chỉ là một nửa giá trị quyền sử dụng đất, trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác về tỷ lệ tài sản chung được ghi nhận hợp pháp.
Đất của vợ hoặc chồng chết, chia theo di chúc hay theo pháp luật?
Có di chúc hợp pháp: Phần di sản là đất được chia theo đúng nội dung di chúc, với điều kiện di chúc đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung theo Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Cần lưu ý quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 (áp dụng cho con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, cha, mẹ, vợ, chồng của người để lại di sản).
Không có di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc di chúc không định đoạt hết di sản: Đất được chia theo pháp luật, tức là chia đều cho những người thuộc cùng một hàng thừa kế theo Điều 650 và Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người ở hàng thừa kế thứ nhất được hưởng phần di sản bằng nhau. Đây chính là lý do vì sao trong nhiều gia đình, khi chồng hoặc vợ mất, phần đất là di sản không chỉ thuộc về vợ/chồng còn sống mà còn phải chia cho các con và cả cha, mẹ của người đã mất (nếu còn sống), trừ khi những người này từ chối nhận di sản hoặc thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thời hiệu yêu cầu chia di sản là đất
Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế (là thời điểm người để lại di sản chết, theo khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015). Hết thời hạn 30 năm mà không có yêu cầu chia, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó; nếu không có người thừa kế nào quản lý, di sản được xử lý theo quy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu tại Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015, hoặc thuộc về Nhà nước nếu không có người chiếm hữu hợp lệ.
Trường hợp hạn chế phân chia di sản
Pháp luật có cơ chế bảo vệ người vợ hoặc chồng còn sống: theo khoản 3 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên còn sống và gia đình (ví dụ không còn chỗ ở, mất nguồn tư liệu sản xuất duy nhất), người đó có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản trong một thời hạn nhất định, theo quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự về hạn chế phân chia di sản.
Thủ tục khai nhận, thỏa thuận phân chia và sang tên đất
Về nguyên tắc chung, các bước thực hiện gồm:
Xác định di sản và người thừa kế: Thu thập Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng tử, giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống/nuôi dưỡng để xác định đúng hàng thừa kế.
Khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản tại tổ chức hành nghề công chứng nơi có bất động sản, nếu các đồng thừa kế thống nhất về cách chia (văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc văn bản khai nhận di sản thừa kế).
Đăng ký biến động đất đai: Sau khi có văn bản công chứng, nộp hồ sơ đăng ký biến động, sang tên Giấy chứng nhận cho người được hưởng thừa kế tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Trường hợp có tranh chấp, không thống nhất được cách chia: Trước khi khởi kiện, các bên phải thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai năm 2024. Sau khi hòa giải không thành, người có quyền lợi liên quan có thể khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Rủi ro pháp lý cần lưu ý
Việc tự ý định đoạt toàn bộ thửa đất mà không thông qua thủ tục khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản hợp pháp có thể dẫn đến giao dịch bị tuyên vô hiệu do vi phạm quyền của các đồng thừa kế khác, phát sinh tranh chấp kéo dài và tốn kém chi phí tố tụng. Ngoài ra, nếu chậm trễ quá thời hiệu 30 năm mà không có yêu cầu chia, quyền lợi của một số người thừa kế có thể bị ảnh hưởng theo quy định về thời hiệu nêu tại mục 6.
Trên thực tế hành nghề, phần lớn tranh chấp phát sinh không phải vì các bên cố tình chiếm đoạt tài sản của nhau, mà vì thiếu hiểu biết về nguyên tắc “chia đôi tài sản chung trước, chia thừa kế phần còn lại sau” cũng như bỏ sót người thừa kế hợp pháp. Chúng tôi khuyến nghị gia đình nên chủ động xác định rõ nguồn gốc đất (tài sản chung hay tài sản riêng), lập danh sách đầy đủ hàng thừa kế và thực hiện thủ tục khai nhận di sản sớm, tốt nhất là trong vòng vài năm sau khi mở thừa kế, để tránh phát sinh thêm các lớp thừa kế mới theo thời gian và giảm thiểu rủi ro tranh chấp giữa các thế hệ.
Trên đây là bài viết: Vợ hoặc chồng chết, đất chung được chia như thế nào? Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực dân sự. Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.
Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.











