Trách nhiệm hình sự trong hoạt đông kinh doanh đa cấp trái phép

luбє­t duy hЖ°ng

Trong những năm gần đây, hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp đã trở thành một mô hình phổ biến tại Việt Nam, góp phần mở rộng kênh phân phối hàng hóa và tạo cơ hội việc làm cho nhiều người. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của mô hình này, nhiều doanh nghiệp và cá nhân đã lợi dụng hình thức đa cấp để thực hiện các hành vi gian dối, lừa đảo, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người tham gia và ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước.

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp tại Điều 217a, nhằm tăng cường tính răn đe và kiểm soát hoạt động này. Bài viết dưới đây, Luật Duy Hưng sẽ phân tích cấu thành tội phạm của hành vi vi phạm quy định về kinh doanh đa cấp, đồng thời làm rõ trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại và người quản lý doanh nghiệp khi để xảy ra hoặc trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm.

Kinh doanh theo phương thức đa cấp là gì?

Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định 40/2018/NĐ-CP, kinh doanh theo phương thức đa cấp là hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh. Người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới. 

Các hành vi bị cấm đối với doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp và người tham gia bán hàng đa cấp

Thứ nhất, các hành vi bị cấm đối với doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 40/2018/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 18/2023/NĐ-CP) như sau:

– Yêu cầu người khác phải đặt cọc hoặc nộp một khoản tiền nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;

– Yêu cầu người khác phải mua một số lượng hàng hóa nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;

– Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc giới thiệu người khác tham gia vào hoạt động bán hàng đa cấp mà không phải từ việc mua, bán hàng hóa của người được giới thiệu đó;

– Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng;

– Cung cấp thông tin gian dối về kế hoạch trả thưởng, về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

– Cung cấp thông tin gian dối, gây nhầm lẫn về tính năng, công dụng của hàng hóa hoặc hoạt động của doanh nghiệp thông qua báo cáo viên, đào tạo viên tại hội nghị, hội thảo, đào tạo hoặc thông qua tài liệu của doanh nghiệp;

– Duy trì nhiều hơn một hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, vị trí kinh doanh đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp;

– Thực hiện khuyến mại sử dụng mạng lưới gồm nhiều cấp, nhiều nhánh mà trong đó người tham gia chương trình khuyến mại có nhiều hơn một vị trí, mã số hoặc các hình thức tương đương khác;

– Tổ chức các hoạt động trung gian thương mại theo quy định của pháp luật thương mại nhằm phục vụ cho việc duy trì, mở rộng và phát triển mạng lưới bán hàng đa cấp;

– Tiếp nhận hoặc chấp nhận đơn hoặc bất kỳ hình thức văn bản nào khác của người tham gia bán hàng đa cấp, trong đó, người tham gia bán hàng đa cấp tuyên bố từ bỏ một phần hoặc toàn bộ các quyền của mình theo quy định Nghị định 40/2018/NĐ-CP hoặc cho phép doanh nghiệp không phải thực hiện nghĩa vụ đối với người tham gia bán hàng đa cấp theo quy định Nghị định 40/2018/NĐ-CP;

– Kinh doanh theo phương thức đa cấp đối với đối tượng không được phép theo quy định tại Điều 4 Nghị định 40/2018/NĐ-CP;

– Không sử dụng hệ thống quản lý người tham gia bán hàng đa cấp đã đăng ký với cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp để quản lý người tham gia bán hàng đa cấp;

– Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác, trừ trường hợp mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp.

Thứ hai, theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 40/2018/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 18/2023/NĐ-CP), người tham gia bán hàng đa cấp không được thực hiện các hành vi sau:

– Cung cấp thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích, công dụng hàng hóa hoặc hoạt động của doanh nghiệp;

– Tổ chức hội thảo, đào tạo về kinh doanh đa cấp khi chưa được ủy quyền bằng văn bản;

– Lôi kéo, dụ dỗ người tham gia mạng lưới của doanh nghiệp khác;

– Lợi dụng chức vụ, địa vị xã hội để ép buộc, lôi kéo người khác tham gia;

– Thực hiện hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương chưa được cấp phép hoạt động.

Trách nhiệm hình sự trong hoạt đông kinh doanh đa cấp trái phép

Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp

Điều 217a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: người nào tổ chức hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp mà không có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp hoặc không đúng với nội dung Giấy chứng nhận thì tùy tính chất, mức độ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

a) Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi phạm tội thể hiện ở hai dạng chính:

– Thứ nhất, tổ chức hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp. Theo Điều 6 và Điều 10 Nghị định 40/2018/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 18/2023/NĐ-CP), chỉ doanh nghiệp được Bộ Công Thương cấp Giấy chứng nhận mới được phép triển khai hoạt động bán hàng đa cấp. Việc tự ý tổ chức hoạt động đa cấp khi chưa được cấp phép là hành vi vi phạm pháp luật.

– Thứ hai, tổ chức hoạt động đa cấp không đúng nội dung trong Giấy chứng nhận đăng ký.

Bao gồm các hành vi như:

+/ Yêu cầu người tham gia nộp tiền hoặc mua hàng để được gia nhập;

+/ Trả thưởng không dựa trên kết quả bán hàng mà dựa vào việc giới thiệu người mới;

+/ Từ chối chi trả hoa hồng, thưởng trái quy định;

+/ Cung cấp thông tin gian dối về kế hoạch trả thưởng, công dụng sản phẩm hoặc lợi ích khi tham gia mạng lưới.

b) Hậu quả và mối quan hệ nhân quả

Tội phạm chỉ cấu thành khi người thực hiện thuộc một trong các trường hợp sau:

– Đã bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về hành vi này mà chưa được xóa án tích;

– Thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng;

– Gây thiệt hại cho người khác từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.

Các hành vi vi phạm phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả như thiệt hại tài sản của người tham gia hoặc khoản lợi bất chính mà doanh nghiệp thu được.

c) Khách thể và mặt chủ quan

Tội phạm này xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp và quyền lợi của người tham gia mạng lưới.
Người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức rõ yêu cầu phải có giấy phép hoặc tuân thủ đúng nội dung được cấp nhưng vẫn vi phạm vì mục đích thu lợi.

d) Chủ thể của tội phạm

Chủ thể có thể là cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại được thành lập và hoạt động hợp pháp.

Trách nhiệm hình sự của người quản lý doanh nghiệp

Người quản lý (Giám đốc, Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, thành viên HĐQT, HĐTV, v.v.) có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự cá nhân nếu họ là người chỉ đạo, tổ chức, hoặc trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm.

Cụ thể:

– Nếu chủ động tổ chức hoạt động đa cấp không phép, chỉ đạo gian dối trong việc trả thưởng, hoặc lợi dụng mô hình đa cấp để chiếm đoạt tiền của người tham gia, họ có thể bị xử lý theo Điều 217a với tư cách người phạm tội.

– Trường hợp thiếu giám sát, buông lỏng quản lý nhưng không chứng minh được yếu tố cố ý thì có thể bị xử lý hành chính hoặc kỷ luật nội bộ, tùy hậu quả và vai trò trong hành vi phạm tội.

Tội vi phạm quy định về kinh doanh đa cấp là tội phạm mang tính kinh tế – quản lý đặc thù, thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật trong việc bảo vệ trật tự thị trường, bảo vệ người tiêu dùng và ngăn chặn mô hình đa cấp biến tướng.


Trên đây là một số nội dung cơ bản về “Trách nhiệm hình sự trong hoạt động kinh doanh đa cấp trái phép”. Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến Doanh nghiệp, mời bạn đọc tham khảo Tại đây.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.

  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879