ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA TỪNG LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

luбє­t duy hЖ°ng

Chủ đề khởi nghiệp đã và đang sôi động trong những năm gần đây; tuy nhiên, trước khi thành lập doanh nghiệp nhiều người không biết lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào cho phù hợp với tình hình thực tế của họ (như số lượng thành viên, mô hình quản trị,…).

Khi thành lập công ty, mọi người thường không biết nên lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào cho phù hợp. Với mong muốn phần nào giúp việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp đơn giản hơn, Luật Duy Hưng sẽ đưa ra những ưu, nhược điểm của từng loại hình doanh nghiệp để khách hàng cân nhắc.

Loại hình doanh nghiệp

Ưu điểm

Nhược điểm

Công ty TNHH 2 thành viên trở lên

– Có tư cách pháp nhân nên doanh nghiệp được thừa nhận là một chủ thể pháp lý, được nhân danh mình tham gia các quan hệ một cách độc lập. Các thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn;

– Có nhiều chủ sở hữu và ít nhiều có quan hệ thân quen nên có thể có nhiều vốn hơn và dễ dàng điều hành, quản lí công ty hơn;

– Có thể tăng vốn điều lệ bằng cách tăng thêm vốn góp của thành viên; tiếp nhận thêm vốn góp của thành viên mới hoặc phát hành trái phiếu;

– Chế độ chuyển nhượng và mua lại phần vốn góp được quy định chặt chẽ nên nhà đầu tư có thể dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên.

– Cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty chịu sự quản lý chặt chẽ của pháp luật hơn so với DNTN và công ty hợp danh;

– Việc không được phát hành cổ phần là một hạn chế cho việc huy động vốn kinh doanh của doanh nghiệp;

– Việc tăng hoặc giảm vốn điều lệ đều phải thông báo với cơ quan Đăng ký kinh doanh, đi cùng một số hồ sơ, thủ tục phức tạp.

Công ty TNHH 1 thành viên

– Do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ nên chủ sở hữu sẽ có toàn quyền quyết định mọi vấn đề có liên quan đến hoạt động của công ty và không cần phải xin ý kiến hay góp ý từ các chủ thể khác và việc quản lý công ty cũng đơn giản hơn;

– Có tư cách pháp nhân nên doanh nghiệp được thừa nhận là một chủ thể pháp lý, được nhân danh mình tham gia các quan hệ một cách độc lập;

– Chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty nên hạn chế được nhiều rủi ro khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh;

– Cơ cấu tổ chức chặt chẽ, chủ sở hữu công ty có toàn quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty;

– Có thể tăng vốn điều lệ bằng cách góp thêm vốn của chủ sở hữu; huy động thêm vốn đầu tư của cá nhân, tổ chức khác hoặc phát hành trái phiếu.

– Bị hạn chế trong việc huy động vốn bởi không được phát hành cổ phiếu;

– Hệ thống pháp luật điều chỉnh khắt khe hơn so với DNTN;

– Nếu có nhu cầu huy động thêm vốn góp của cá nhân, tổ chức khác thì sẽ phải thực hiện thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần.

Công ty cổ phần

– Có tư cách pháp nhân;

– Các cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn về nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi ro không cao;

– Khả năng huy động vốn rất cao thông qua phát hành cổ phiếu ra công chúng. Đây là đặc điểm riêng biệt chỉ công ty cổ phần có;

– Có khả năng huy động vốn rộng rãi do không hạn chế số lượng cổ đông và có thể huy động vốn cả trong và ngoài nước;

– Cổ đông có thể dễ dàng, tự do chuyển nhượng, mua bán, thừa kế cổ phần;

– Quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực ngành nghề;

– Việc hoạt động của công ty đạt hiệu quả cao do tính độc lập giữa quản lý và sở hữu. Ngoài ra, mọi quyết định trong việc kinh doanh được thu thập ý kiến của các cổ đông nên rất minh bạch trong quản lý, điều hành.

– Việc quản lý và điều hành Công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ đông đối kháng nhau về lợi ích;

– Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính bị hạn chế do công ty phải công khai và báo cáo với các cổ đông;

– Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán.

Công ty hợp danh

– Có tư cách pháp nhân;

– Chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh;

– Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp cao, tin tưởng nhau.

– Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn và không có sự phân biệt rõ ràng giữa tài sản công ty và tài sản cá nhân nên  mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao;

– Các thành viên hợp danh cùng là người đại diện theo pháp luật của công ty và cùng tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty nên nếu không thống nhất được ý kiến sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh;

– Việc huy động vốn của công ty bị hạn chế do không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào;

– Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân; không được làm thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại;

– Thành viên hợp danh rút khỏi công ty vẫn phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty hợp danh phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên trong thời hạn 02 năm;

Doanh nghiệp tư nhân

– Thủ tục thành lập đơn giản;

– Chỉ do 1 cá nhân làm chủ nên được toàn quyền trong việc quyết định mọi hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp;

– Vốn của doanh nghiệp do chủ sở hữu tự đăng ký và không cần làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp;

– Vì chế độ chịu trách nhiệm của DNTN là vô hạn nên có thể dễ dàng có được lòng tin từ khách hàng và các đối tác hơn (khách hàng hạn chế được tối đa rủi ro khi hợp tác);

– Ít bị chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật hơn, có thể kiểm soát được rủi ro vì chỉ có duy nhất một người làm đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

– Vì chỉ có một cá nhân làm chủ, không có sự liên kết góp vốn; khó có thể đáp ứng ngay nhu cầu cần có vốn lớn để kinh doanh;

– Việc huy động vốn của công ty bị hạn chế do không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào;

– DNTN không có tư cách pháp nhân nên không được tự mình thực hiện một số giao dịch mà pháp luật quy định;

– Chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình nên nếu tài sản của công ty không đủ để trả các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính khác thì chủ sở hữu sẽ phải dùng tài sản riêng của mình để giải quyết các khoản nợ này ngay cả khi công ty đã tuyên bố phá sản.


Để tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp. Mời bạn đọc tham khảo các bài viết khác Tại đây. 

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.
  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879