Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại?

luбє­t duy hЖ°ng

Bài viết tập trung làm rõ trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, qua đó giúp người đọc hiểu được trong những trường hợp nào pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, các điều kiện phát sinh trách nhiệm cũng như các loại tội phạm mà pháp nhân có thể phải chịu. Đồng thời, bài viết nêu các hình phạt áp dụng đối với pháp nhân, mối quan hệ giữa trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân có liên quan, từ đó giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro pháp lý và chủ động xây dựng cơ chế quản trị, tuân thủ pháp luật nhằm phòng ngừa vi phạm.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là một trong những bước tiến quan trọng của pháp luật hình sự Việt Nam kể từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức quy định chế định xử lý hình sự đối với pháp nhân. Đây được xem là sự thay đổi mang tính đột phá, thể hiện sự thích nghi của hệ thống pháp luật với yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới, khi hoạt động của doanh nghiệp ngày càng đa dạng, phức tạp và có khả năng gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng nếu vi phạm.

Khái quát về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại, với tư cách là chủ thể độc lập trong giao dịch và hoạt động kinh doanh, có khả năng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật thông qua người đại diện, người quản lý hoặc nhân viên của mình. Khi pháp luật thừa nhận pháp nhân có thể bị xử lý hình sự, điều đó đồng nghĩa Nhà nước đặt doanh nghiệp vào một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ hơn, buộc pháp nhân phải chịu trách nhiệm nếu hành vi vi phạm được thực hiện vì lợi ích hoặc theo sự chỉ đạo của doanh nghiệp.

Các hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại gồm: phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn, cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động trong lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn, và tịch thu tài sản. Đây là các biện pháp mang tính răn đe mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Theo quy định tại Điều 75 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm về “Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại” thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

2. Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

3. Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

4. Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

Điều luật cũng nêu rõ “Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự” không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Điều này có nghĩa là pháp nhân thương mại có hành vi vi phạm pháp luật hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự thì cá nhân trong pháp nhân đó mà có hành vi vi phạm pháp luật hình sự vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tư cách người phạm tội.

Các tội danh áp dụng với pháp nhân thương mại

Không phải mọi tội phạm đều được áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Chỉ những tội danh có tính chất kinh tế, môi trường, tài chính, hoặc gắn với hoạt động sản xuất – kinh doanh, nơi pháp nhân có thể tổ chức, chỉ đạo hoặc hưởng lợi từ hành vi phạm tội, mới thuộc phạm vi Điều 76 BLHS. Điều này thể hiện sự cân nhắc của nhà làm luật, nhằm bảo đảm tính khả thi và phù hợp với bản chất của pháp nhân.

Theo Điều 76 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, có 33 tội danh thuộc phạm vi áp dụng cho pháp nhân thương mại. Các tội danh này được chia thành các nhóm sau:

(1) Nhóm tội phạm về kinh tế: Đây là nhóm lớn nhất, phản ánh thực tế nhiều vi phạm xảy ra trong hoạt động kinh doanh. Bao gồm các tội:

+/ Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192–195)

+/ Tội đầu cơ (Điều 196)

+/ Tội trốn thuế (Điều 200)

+/ Tội phát hành, cung ứng, sử dụng chứng từ giả (Điều 203)

+/ Các tội vi phạm quy định trong hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, kế toán (Điều 209–211)

+/ Tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (Điều 225, 226)

+/ Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Điều 217)…

Những tội này thường gây thiệt hại lớn cho thị trường, cho Nhà nước và cho người tiêu dùng. Việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân giúp xử lý tận gốc nguồn hưởng lợi từ hành vi vi phạm.

(2) Nhóm tội phạm về môi trường: Các tội liên quan đến ô nhiễm, suy thoái môi trường, gây hại đến sức khỏe cộng đồng, gồm: Các tội về môi trường từ Điều 235 đến Điều 246, như:

– Gây ô nhiễm môi trường

– Vi phạm quy định về xử lý chất thải

– Hủy hoại nguồn lợi thủy sản

– Hủy hoại rừng

– Vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường…

Nhóm tội này thường xuất phát từ sản xuất quy mô lớn, nơi hành vi vi phạm mang tính hệ thống. Xử lý pháp nhân là biện pháp mạnh để ngăn ngừa doanh nghiệp coi nhẹ trách nhiệm môi trường.

(3) Nhóm tội phạm về an toàn thực phẩm: Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm (Điều 317 – nằm trong nhóm mở rộng trách nhiệm pháp nhân từ 2017)

Các tội này tác động trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và thường xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

(4) Nhóm tội phạm về an ninh, trật tự: Một số tội đặc biệt nghiêm trọng mà pháp nhân có thể tham gia:

+/ Tội tài trợ khủng bố (Điều 300)

+/ Tội rửa tiền (Điều 324)

Đây là các tội phạm có tính quốc tế, tiềm ẩn rủi ro lớn, dễ bị lợi dụng thông qua pháp nhân để che giấu dòng tiền bất hợp pháp. Việc xử lý pháp nhân thương mại trong các tội này góp phần bảo đảm an ninh tài chính và phòng chống tội phạm có tổ chức.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Nguyên tắc xử lý

Theo Điều 3 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025 thì nguyên tắc xử lý pháp nhân thương mại phạm tội như sau:

a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;

c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

Mục đích cốt lõi của chế định này là nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, môi trường, tài chính và các lĩnh vực kinh doanh đặc thù. Khi pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự, pháp luật không chỉ xử lý cá nhân có hành vi vi phạm mà còn xử lý cả “bộ máy đứng sau”, nơi tổ chức, chỉ đạo và hưởng lợi từ hành vi phạm tội.

Ngoài ra, quy định này giúp khuyến khích doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và tuân thủ pháp luật tốt hơn. Doanh nghiệp muốn tránh bị xử lý hình sự sẽ tự giác rà soát hoạt động, hạn chế tối đa nguy cơ nhân viên hoặc nhà quản lý thực hiện các hành vi vi phạm.

Ý nghĩa của điều luật.

Việc đặt pháp nhân thương mại trong phạm vi điều chỉnh của luật hình sự mang lại nhiều ý nghĩa sâu sắc, không chỉ đối với hệ thống pháp luật mà còn đối với toàn bộ môi trường kinh doanh và xã hội.

Thứ nhất, tăng cường tính răn đe và ngăn ngừa tội phạm trong lĩnh vực kinh doanh. Khi pháp nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mức độ răn đe sẽ mạnh mẽ hơn rất nhiều so với chỉ xử lý cá nhân. Doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc kỹ lưỡng mọi hoạt động, đảm bảo tuân thủ pháp luật một cách chặt chẽ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh các hành vi vi phạm về thuế, môi trường, chứng khoán, an toàn thực phẩm… ngày càng gia tăng và gây hậu quả lớn.

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm quản trị của doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp bị xử lý hình sự sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, thương hiệu, khả năng huy động vốn và đối tác kinh doanh. Điều này buộc pháp nhân phải tăng cường kiểm soát nội bộ, minh bạch hóa quy trình và xây dựng văn hóa doanh nghiệp hướng đến tuân thủ pháp luật. Nhờ đó, chất lượng quản trị doanh nghiệp được cải thiện, giúp hạn chế rủi ro pháp lý.

Thứ ba, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Khi hành vi vi phạm gây thiệt hại trên diện rộng, việc xử lý pháp nhân – chủ thể hưởng lợi hoặc tổ chức hành vi – là biện pháp công bằng và cần thiết. Điều này góp phần khôi phục niềm tin của người dân và doanh nghiệp chân chính vào hệ thống pháp luật.

Thứ tư, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Một doanh nghiệp vi phạm pháp luật để trục lợi sẽ gây ra sự cạnh tranh không công bằng đối với các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật. Việc xử lý nghiêm sẽ loại bỏ các yếu tố bất bình đẳng, thúc đẩy môi trường kinh doanh minh bạch và ổn định hơn.

Thứ năm, phù hợp với xu hướng và thông lệ quốc tế. Nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng chế định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân từ lâu. Việc Việt Nam gia nhập nhóm này cho thấy sự hội nhập sâu rộng, đồng thời giúp hệ thống pháp luật tiệm cận tiêu chuẩn toàn cầu, hỗ trợ thu hút đầu tư nước ngoài.


Để tìm hiểu thêm các quy định khác có liên quan trong lĩnh vực hình sự, Quý khách tham khảo các bài viết khác tại đây.

Hoặc liên hệ với Luật Duy Hưng bằng một trong các hình thức sau để được Tư Vấn Luật Miễn Phí.

  • VPGD Hà Nội: Số 181-183, phố Nguyễn Cảnh Dị, KĐT Đại Kim - Định Công, phường Định Công, Tp.Hà Nội. (Xem đường đi)
  • Chi nhánh Hà Nam: Tổ dân phố Thịnh Đại, phường Lê Hồ, tỉnh Ninh Bình (Xem đường đi)
  • Hotline (Zalo) tư vấn: 0964653879   –    Zalo: Luật Duy Hưng   -   Email: luatduyhung@gmail.com
  • Mời Quý vị theo dõi Luật Duy Hưng tại đây:
  • Cam kết cung cấp dịch vụ  "Tận Tâm - Uy Tín - Hiệu Quả"
Rất hân hạnh được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.  ok

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0964653879